Thursday, December 15, 2005

Kiểu mẫu một ngôi nhà

Sunday, December 11, 2005

Bài ký từ đường họ Ngô
Một nhà tụ tập được cái phúc của trời đất, một người mà tiêu biểu cho muôn đời . Xét ra đều do tạo hoá cả. Khi số hưng thịnh, ban đầu tất cả đều phải có gốc, giữa phải có nối tiếp, sau phải có thành tựu . Sao nói là lòng tạo hoá? Muốn có phúc lớn, lấy khó khăn thử thách trước để kiên trì tấm lòng tích phúc, rối sau phúc sẽ đến lâu dài . Muốn có nhiều điều kiện, trước phải gặp ngang trái để rèn cái trí tu thiện, rồi sau điều thiện sẽ được báo đền mãi mãi . Thiện và phúc được báo đền là ứng với khí vận. Tầm thường trở nên thần kỳ, rơm cở trở nên nhà đẹp, trước hèn, nay quý; trước nhục, nay vinh; trước không nay có. Người anh hùng của non sông làm nên vẻ mới, nếu không có chốn mở ra sao được như thế ?

Cha con Ngô tướng công của châu ta là bậc khai quốc công đầu . Cháu con là danh tướng thời Trung hưng. Một nửa son tía, muôn đời chi lan. Người ta nói là nhờ đất phát phúc. Tôi nói đây là trời báo đức. Tôi liên hệ người có đức này là nhờ các bậc tiên thế tích luỹ âm công, trời cho phúc, đất lành bồi đắp lên. Một gốc hai thân, nghìn vạn cháu con. Đó là cái gốc ban đầu vậy . Từ tướng công về sau các bậc Vương, Công, Hầu, Bá , quan chức. Khoa danh đã trải trên 300 năm với hơn 200 người con ưu tú. Tất cả đếu trung trinh một dạ, giúp nước hết lòng, ân huệ khắp cho dân. Những niềm vui lớn để mãi cho cháu con, vang mãi trong tai mắt người ta . Đó là ở giữa nối tiếp, người sau nối được chí ấy, thuật lại việc ấy . Điều thiện cùng sánh cao với núi Quy, núi Phượng. Núi Quy, Núi Phượng vĩnh viễn kết đọng tuấn tú. Phúc cùng sánh sâu sông Mã , sông Lương ( tức sông Chu ). Nước sông Mã, sông Lương vĩnh viễn ngưng đọng tinh anh. Động Phanh mãi mãi là nơi cát địa . Hoàng Phúc chẳng nói hết được ý nghĩa . Ông Quách cũng có chỗ chưa hiểu nổi . Nghìn vạn năm sau, vô cùng vô tận, đó là điều sở thành của người sau vậy . Tôi vẫn nói, trước hết con người làm nên phúc, sau mới nói trời báo đúc, sau nữa mới nói đất nay phát phúc.

Những thành tựu về sau là nhờ sự kế thừa của khoảng giữa bắt nguồn từ cái gốc ban đấu . Ban đấu là do cái gốc. Xem ra lòng tạo hoá đúng như thế!

Mùa xuân, năm Bảo Thái thứ 9 ( 1713 ) thượng thuần tháng hai,
đệ nhất giáp tiến sĩ , đệ nhị danh,
Hà nguyên Công viết.

Bài ký từ đường họ ngô

Tiên tổ họ Ngô ta là dòng dõi quý tộc nước Nam. Công nghiệp của đời trước, sự nghiệp ghi rõ trong sử ký. Đã trải qua các đời trên nghìn năm. Từ Đinh lên Lý, Trần trở về sau, con cháu ngày một đông đúc, khấm khá. Đến cuối đời Trần chọn đất ở Động Phang, chỉ sồng bằng nghề làm ruộng. Đấng Hoàng thiên để phúc, đất lành bồi đắp họ ta từ đấy phát tích. Các cụ tổ nhà, cha con ngài Dục Vương là bậc khai quốc công đầu, lừng lẫy tiếng tăm. Ngài Dụ Vương có ba anh em. Ngài sinh hạ mười một con trai đến được nhân tước phong và ruộng ngày một nhiều . Con cháu hoặc ở bản quán trông nom việc phụng thờ tiên tổ hoặc dời làng khác đều có phần đất hoặc ở châu quận khác kinh doanh sinh sống. Số người đi nơi khác ở ngày một đông được nhờ phúc ấm của trên mà con cháu trong họ đều hiển đạt. Võ là hùng tướng, văn trúng giáp khoa . Con trai nối nghiệp cha ông, con gái làm vẻ vang môn hộ. Đàng trong từ Ngệ An trở vào Nam, đàng ngoài từ Ninh Bình trở lên phía bắc, các chi phái họ nhà đều có cả. Người đông lại trải qua nhiều thế hệ khó mà ghi chép được, hoặc đổi theo họ mẹ cũng nhiếu, hoặc vì gia phả đời trướcc bị thất lạc không rõ bà con ở đâu . Chỉ biết họ Ngô ta từ Động Phang sinh ra . Có truyền lại mộ tổ ta thiên táng Ông bờ đó , bà xó chùa mà thôi . Có người được nhân ơn vua về thăm miếu tổ, có người ở xa quá không tiện đi lại, không thể kể ra hết . Riêng phái ta đời đời ở bản quán chịu ơn vua đã trên 200 năm, những người có quan chức, công to tát sử ký đã chép , còn có thể xét được. Đời Dụ Vương ta, hoàng hậu một người, phong vương một người , Quốc công một người , quận công sáu người, tước hầu ba người, phong phúc hầu một vị. Đời Thanh quốc công , phong quốc công bốn người, quận công tám người, tước hầu sáu người nữ năm vị. Đời Nam quận công, phong quốc công ba người, phong vương hai người, quận công mười người, phong tước hầu mười hai người, tước bá năm người, giám sinh mười người, phúc thần năm bốn vị. Các phái ở nơi khác có thể ghi được. Quận công tám người, quốc công ba người, tước bá mười người ., đỗ tiến sĩ sáu người, phong phúc thần ba vị. Triều vua ta (Lê) trung hưng về sau các chi phái ngày càng xa chưa thể ghi chép hết được. Chỉ chép những điều đã nghe, đã thấy, từ đời Bình giang hầu hết đến nay, phong vương một người, phong quận công hơn hai mươi người ( đều ở trong quyển này) tước hầu tước bá trên bồn mươi người, giám sinh trên ba mươi người . Tiến sĩ hai tám người . Các quan tước về sau đều chép riêng một cuốn.

Nói về phái ta, từ đời Thanh quốc Công trở lại đây đời đời được cấp ruộng tự điền, tính ra thêm một vạn ba nghìn mẫu . Ngài Dụ Vương có 11 người con, đến đời Thanh Quốc Công thụ lộc vẫn như thế. Còn các người khác có thể biết được. Con cháu Thanh Quốc Công cũng vẫn được hưởng lộc như thế. Các con cháu khác cũng có thể biết được. Từ đó về sau ông Tổ ta Phan Quý Công, tự là Phúc thọ là con nhà thế gia, thi gám sinh (phép tắc thi cử đời Lê: Con cái nhà quan thi đỗ tứ trường được xung vào quốc giám, gọi là giám sinh, dân thường gọi là hương cống. Thi đỗ tam trường, con quan gọi là nhi sinh, dân thường gọi là sinh đồ ) đã ra làm quan. Chợt gặp thời sự có biến, ba anh em bèn rủ nhau di cư về trấn Sơn-Nam hạ, một ở Tống Vũ, một ở Bái đương, một ở Minh Giám. ậ Bái Dưỡng (huyệnu Nam Trực- Nam Định ) vẫn để nguyên họ Ngô. Chi ta và chi Minh giám vì lý do lánh đất lên đổi là họ Phan. Sau khi đã chuyển cư, tổ nhà lại trở về Động Phang rước mẹ về phụng dưỡng. Được vài năm cụ thân sinh ra Phúc Thọ là Phúc Toàn mất, chôn ở thôn Nam. Sau đó bà mẹ Phúc Thọ là Cụ họ Lê vì nhớ quê hương, bà con thân thuộc trở về quê cũ thăm viếng, chẳng may bị bệnh mất mộ chôn tại Động Phang. Chi ta từ đó tôn cụ Phúc Toàn là sư tổ. Ông Phúc Thọ sinh ra Cương dũng hầu tự là Phúc Cương, lại sinh ra Khắc Khoan, Uy dũng đều đỗ giám sinh, lần lượt thăng trọng chức, lại sinh ra Chính Đức được phong làm Phú vinh hầu . Từ đó trở đi soạn riêng gia phả .

Đời Vĩnh thịnh thứ năm (1709) ngày sáu tháng hai.
Thi đỗ giám sinh, thăng thụ tước Thao vũ hầu,
Phan Hữu Lập , xã Tống Vũ - ghi chép rõ.

Việc Viêc họ họ Ngô

NGUYÊN ỦY VIỆC XÂY DỰNG TỪ ĐƯỜNG

TRONG QUÁ TRÌNH PHÂN CHIA CÁC NGÀNH

(Nguyên ủy quá trình xây dựng từ đường để ghi lại ý tưởng tốt của cụ Phan Thi, lấy đó để khuyến khích người đời sau noi theo)

Việc thiên hạ không việc gì ưu tiên bằng việc thiện. Làm việc thiện nên lớn nao. Lớn lao có thể trường sửu, trường sửu cho nên mới có hành động cho một ngày, Hành động cho một ngày ấy có thể truyền cho trăm nghìn đời sau.Đó là người hiểu sâu sắc điều thiện.

Sự việc có thể gom chứa tích lũy bao nhiêu năm mà sự hủy hoại chỉ trong chốc lát. Đó là sự không hiểu biết điều thiện, việc thiện. Người hiểu biết điều thiện, việc thiện thì tức khắc làm không đắn đo ngờ vực gì.

Ông Phan Thi là người như thế.Ông là người học thức sâu, lấy ý nghĩa Kinh Lễ để Tự phòng ngừa nên thường cảm khái nói: ”Việc phụng sự tiên tổ, tụ hợp dòng họ là ở từ đường. Các bậc quân tử đời trước khi dựng cửa nhà phải coi việc xây dựng từ đường là việc trước tiên (Trong thiên Lẽ đàn cung có nói: ”người quân tử khi chuẩn bị làm nhà thì coi tông miếu là việc trước tiên, nhà ở sẽ làm sau). Các bậc vương giả xây miếu thờ rất tôn nghiêm là nhằm tụ hợp anh linh tiên tổ làm cho lòng người bó bện lại (xem quả Tụy trong kinh Dịch).

Tổ tiên từ khi chọn đất về ở đất này chưa xây được từ đường, các tiết xuân thu đều hội tế ở nhà trưởng nam. Xét trong kinh Lễ có chỗ chưa hợp lý, bèn đưa ý kiến này trình bày với các vị già cả thân hào chức dịch trong nội tộc lo tính việc này, thu góp tiền làm vốn cho vay lấy lãi và định kỳ hạn xây từ đường. Về sau lãi tức của số tiền công quỹ được hơn 400 quan những người lập văn khế vay rồi không trả (có tú tài Phan Đăng Khoa, bát phẩm thư lại Phan Văn Dụ ,cựu phó tổng Phan Văn Huề ,lý trưởng Phan văn Hân, xã trưởng Phan Văn Minh. Về sau Phan Khoa, Phan Dụ tuyệt tự. Đáng làm răn vậy thay!) Thậm chí buộc phải đi tố giác nhờ quan tri phủ bắt phải hoàn lại một vốn nửa lãi .Nhóm người đó phụ lòng tình cảm bà con họ hàng sạch trơn. Vì chuyện này đi đến hiềm khích lẫn nhau đốt hết giấy tờ cam kết việc vay nợ. Do vậy mà việc xây từ đường không thành. Các chi đều cúng giỗ riêng. Điều đó chứng minh sự gom góp dành dụm hàng năm mà phút chốc ra tro. Đó phải chăng là sự không hiểu việc thiện, điều thiện mà đến nỗi thế chăng. (Xem đến đây thật đáng hận, đáng tiếc, lai cực kỳ đau lòng, kiến người ta phải đập bàn mà than dài!). Tháng 2 mùa xuân năm Bính Thìn (1856) triều Tự Đức, ông Phan Thi lại họp anh em chú bác nội chi (ngành ta) nói:’bọn họ như thế, chúng ta há lại bắt chước họ vậy thì việc cúng giỗ tổ tiên thế nào!” Toàn chi đồng lòng xin cứ theo quyết nhị. Sau đó chia từng hạng bậc mà góp tiền. (số tiền vốn cũ còn 25 quan 6 mạch. Cùng với nợ cũ là 4 quan, vị chi 29 quan 6 mạch luân chuyển cho vay lấy lãi, đợi một thời gian sẽ xây từ đường. Ông Phan Thi cùng với các em cung tiến vào đồ tế khí trong đó có một cỗ ngai (sự việc này xem phần sau ). Sự quan tâm của ông với ngày kỵ tiên tổ là như thế. Việc ông lo sửa sang từ đường, việc tế lễ tiên tổ đều là những việc tốt đẹp cần phải làm còn nhiều. Nào biết chí ông chưa toại nên ông về cõi tiên ngày 11 thán 4 năm Canh Thân (1860)(xem đến đây thực đáng thương, đáng tiếc).

Trong họ các ông Phan Trọng Thành, Phan Đăng Phú cùng với các ông Phan Uông, Phan Phúc kế thừa ý tứ tốt đẹp của Ông Thi ,hội họp tính toán số tiền lãi được 162 Quan. Lại bổ theo ba hạng bậc số tiền phải đóng góp tiếp:

Hạng 1 mỗi người 15 quan (7 người )

Hạng 2 mỗi người 10 quan (16 người )

Hạng 3 mỗi người 8 quan (7 người )

Tiếp đó, các ông Phan Xuân Hảo ,Phan Văn Bàn cùng Phan Hiệt và vợ Nguyễn Thị Thảo lại góp được 16 quan (việc này xem phần sau). Các khoản tiền đó tất cả được 489 quan ,mua được tư thổ và thổ cúng tiến cộng là 5 thước. Ngày tốt tháng 2 năm Tân Dậu (1861) tập hợp các nhóm thợ dựng từ đường. Bên trong là nội tẩm ngoài là bái đường ,mỗi tòa 3 gian, mái lợp cỏ gianh tường xây, tất cả theo pháp độ thời cổ. Không đầy tháng công việc hoàn thành. Chính tâm bên trong có trang trí hoa văn ngũ sắc rực rỡ. Tả hữu vu có thềm đá, đắp hai ngựa chầu phía trước, phía Đông ngựa hồng, phía Tây ngựa bạch hình thành một cảnh trưng nước. Từ đây có nơi thờ tự tổ tiên tươm tất vững bền. Cái chí xưa của ông Phan Thi đã đạt tới sự tròn vẹn. Cho nên nói việc làm của một ngày truyền đến trăm đời là như thế (xem đến đây đáng vui, đáng mừng đáng khen khiến người ta phải vỗ tay cười lớn).Qua việc này người nào hiểu biết việc đời có trải qua thất bại rồi sau mới thành công. Người ta phải biết suy nghĩ cho sâu sắc mới hiểu được nguyên nhân . Cho nên cứ lặng lẽ như là người ngu ,người vụng mà kiên tâm mài chí thì công việc lớn có thể thành, sự nhiệp có thể bền vững được. Nào phải một ngày một buổi mà thành được việc lớn .thấy việc nhỏ tưởng có thể làm nhanh được đâu! Nói như thế để lớp người sau của chi ta trăm đời sau nếu từ đường chỗ nào bị hư hoại khí, người giàu có xuất tiền của ,người nghèo bỏ công sức, biết nương tựa vào nhau cho công việc được thành công và không quên ý chí của người đi trước.Kinh thi có câu:’Kế tự tư bất vong”(thứ tự tiếp nối nhau không quên ý tưởng tốt) Lại nói “kế tự kỳ hoàng chi”(thứ tự tiếp nối nhau để to đẹp thêm).

Ngày tốt tháng 2 năm Tân Dậu (1862) triều vua Tự Đức. Chúng tôi là Phan Trọng Thành, Phan Văn Uông, Phan Đăng Phú ghi lại sự việc này lưu cho lớp người sau làm tấm gướng soi chung cho cõi lòng mình./.

BÀI KÝ TRÙNG TU TỪ ĐƯỜNG

Việc trong thiên hạ có điều gì làm được cho tổ tiên thì sự tốt đẹp đó được lưu truyền. Người lớp sau làm được điều gì cho tổ tiên thì càng được tuyên dương. Người đời sau hẳn vì người lớp trước, mà người lớp trước hẳn là trông cậy nhờ vào lớp người sau. Cả hai phía thế hệ trước, thế hệ sau cùng dựa vào nhau mà thành mọi việc. Đó là lý do vô cùng quan thiết vậy.

Các vị tiền nhân: Phan Trọng Thành, Phan Đăng Thi, Phan Đăng Phú, Phan Đăng Uông, Phang Đăng Phúc, Phang Đăng Diễn vào năm TÂN DẬU (1861) triều Tự Đức đã xây dựng từ đường thờ tiên tổ và đã thành công. Có thể nhìn nhau mà nói: ”thế là tốt đẹp rồi, lớp sau ta chớ bỏ nền móng này “. Thay vì năm tháng đã lâu, gió mưa xối xả làm lung lay tường vách, phía ngoài đã bị hư hại lại kề sát ngõ nhỏ. Cái thế đó ăt phảo di dời. Hai ông Phan Phúc, Phan Diễn bàn bặc lo toan cùng bà con trong họ, trích số lãi cũ được trên 200 quan, mua gỗ tứ thiết hẹn ngày xây dựng, ý định vào năm Đinh Hợi (1887) (năm Thành Thái nguyên niên), các ông Phan Diễn, Phan Ứng mưu tính chuyển từ đường ở địa điểm mới. Chọn đất mua được một sào thổ cũ của ông Phan Phổ. Đó là nền móng tốt của nghìn vặn năm hương hỏa và bèn di dời.

Trước hết nói về Từ Đường cũ thì xây dựng chính tẩm và bái đường chung một tào 5 gian. Lần này chọn gỗ, gọi thợ khởi công. Thang 6 năm Qúy Tỵ (1893) làm chính tẩm 3 gian 2 chái mái ngói tường gạch hai bên cánh gà có tiểu viện. Qua 2 tháng thì xong ‘.

Vói trên thỏa lòng các đấng tiên linh, lớp người giữa thì tiếp nối được công lao tạo tác của người trước, với lớp người sau kế thừa nối dõi ở đất này. Một việc có nhiều điều thiện như thế.

Trước kia tôi thường đọc bài ký xây từ đường có nói : Chúng ta là lớp người sau, chi ta 100 đời sau từ đường nếu như khuyết liệt thì người giàu bỏ tiền của, người nghèo góp công sức, cùng dựa vào nhau đi tới thành tựu để không bao giờ quyên ý chí lớp người trước. Kinh thi nói : “Thứ tự tiếp nối nhau không quên ý tưởng tốt “. Lại nói : “Thứ tự tiếp nối nhau để to đẹp thêm “. Hãy rửa tay sạch, kính cẩn mà đọc lời nói ấy, ghi tạc vào trái tim để tăng thêm súc cảm . Thế là anh em chú bác đều vui vì đã kế thừa ý tưởng lớp người trước. Từ đường cùng cảnh quan lại trở nên mới mẻ. Nhìn đế bài ký thuở trước, tôi như thấy các bậc tiền nhân, cũng nở nụ cười chốn dạ đài (chỉ suối vàng, mộ). Con cháu ta sau này xem đến bài ký hôm nay hẳn thấy lời nói đó có ý vị sâu xa mà nối chí.

Thuật lại sự việc với anh em trong họ cũng là xem lại bài ký thủa xưa. Bài ký thủa xưa chẳng đã nói, việc làm của một ngày truyền lại cho trăm nghìn đời sau, đó là lẽ đương nhiên. Chúng ta lớp người sau hãy gắng lên khuyến khích lẫn nhau.

Ngày 16 tháng 8 năm Qúy Tỵ (1893) triều Thành Thái.

Cử nhân NGÔ PHAN CẢNH TUNG viết lời tự (kể lại)

(Cử nhân NGÔ PHAN CẢNH TUNG, tiên phụ trước đặt tên là Văn Kiến. Anh cả lại đổi tên là Văn Chiêm. Trong sổ đinh tên là Đức Tuấn. Lại có tên là Đắc Thuyên. Sau khi đậu hương tiến (tức cử nhân) lại đổi gọi theo trên (Phan Cảnh Tung).

Thân Thân Thuyết

THÂN THÂN THUYẾT

(Nói về sự thân thiết với bà con trong họ)

Từ thủa xưa (họ ta) đã có những vị thượng đại phúc thần nhờ trời đất mà giáng sinh nơi thần thế, sinh ra ông cha ta đến bản thân ta làm cho họ ta thịnh vượng, vun trồng đạo đức cho ta, làm cho họ ta nở ngành xanh ngọn.

Ta sống ở đất nước tốt lành, bồi đắp mẫu “nhân” cho ta. Khí âm theo bóng ta cùng phụ với khí dương mà có hình thể ta.Khí âm dương đó giáo huấn ta mà ta mà ta không nhìn thấy, bảo ban ta mà ta không nghe thấy âm thanh. Cả cuộc đời giỏi giang hay kém cỏi những việc ấy trước sau thường có sự biến đổi. Trăm nghìn năm lại đây (tinh thần) ấy mờ mờ ảo ảo về cháu con mà phù trì, giúp đỡ. Công đức ấy thật cao dầy, tinh linh ấy như một dòng nước chu lưu trong trời đất khiến trong ta có cái thế rất thân thiết, rất tôn kính, rất quan thiết với nhau.Kinh thư nói : “tuân theo tiên tổ”. Kinh lễ nói :”tôn kính tiên tổ”. Kinh thi nói: ”nối dõi tổ tiên”. Kinh dịch nói:” tụ hợp tinh hoa tiên tổ”. Người xưa coi việc đó là cái nghĩa rất trọng đại.Cho nên việc xây dựng tông miếu (từ đường), sửa sang lễ nhạc, bày biện đồ thờ, cúng giỗ đầy đặn cốt là báo đáp, cái gốc tiên tổ đã sinh ra ta.Việc thờ phụng tiên tổ để bó bện dòng họ (Cửu tộc)*. Ngoài ra có việc tế lễ (Ngũ tự)*, cùng việc tế lễ những người có công đức với dân, có sính lễ, có tân lễ, có hương âm lễ. Mấy thứ lễ này là sự thù tạc mà thôi. Từ khi thời đại ngày một đi xuống thì việc cúng lễ chẳng cần cái thiện ở nơi ta (ý nói tổ tiên ta - nd), chuyên tâm cầu phúc ở thần minh, chăm việc tu sửa đình chùa, đối với từ đường (thờ tổ tiên ) thì qua loa, đơn giản. Thi nhau nuôi lợn to để cúng lễ nơi miếu thờ ngoài nội mà các vị tiên linh chỉ có nậm rượu đem dâng. Dê non béo đãi khắp làng xóm, với người cùng một nhà thì có lỗi lầm cho ăn uống khô khan, kham khổ. Thậm chí việc cúng giỗ đùn đẩy trách nhiệm cho gia đình đôn đốc. Với phần mộ thì người trưởng ủy thác cho người nhà rằng, đó là phận của người lớn tuổi, người ít tuổi chỉ biết theo thôi.

Sự phí tổn đối với lệ làng hoặc có khi tốn kém tới trăm, tới nghìn thì người nhà vui vẻ tuân theo. Phí tổn đối với tộc lệ (lệ của họ tộc) ước khoảng 5, 6, 7 quan tiền thì người nhà mặt ủ mày nhau, tiếc tiền, tiếc của. Thế là làm sao? có phải ý trí cho rằng tiên tổ đổ tội cho đời sau chăng? Ngoài những sự lệ trong hương thôn ra, chỗ sáng sủa có người cho là sai sót, chỗ tối tăm có quỷ thần trách móc. Cái tình trạng ấy chẳng đã thu hoạch được rồi đó sao? Nuôi lợn béo có thì lĩnh thưởng. Nợ miệng có thể thay cho việc đền bù hay không? đều cầu đến âm phúc của thần linh giáng xuống, liệu cái danh dự ấy có kéo dòng dài được không? hay, hoặc là bị nhiều người trong dòng tộc chỉ trích mà dân làng cũng cho là chuyện dở? Cho nên sự báo đền cho cái dục vọng ấy liệu có đáng khen không? Song (những người đó) chưa nghĩ được, người làm việc thiện sẽ được cát thần ban phúc, người làm điều ác sẽ bị hung thần gieo họa. Qủa quyết chưa từng nghe nhà cao, cửa rộng, gà lợn béo tốt, mà có thể dâng biếu điều tốt đẹp. Còn như việc khoan dung với kẻ kia hoặc là cho nó vay nợ để nó trộm cắp hại người, kiện cáo điêu toa làm những việc dâm ô càn dỡ, bạo ngược mà cho đó là cái oan khiếp trước của nó như thế. Thần minh nếu có nghe biết thì sẽ nhanh chóng gieo tai họa cho bản thân kẻ ấy. Chao ôi, liệu có lợi ích gì !

Phải nghĩ cái nguyên khí của ta là nhờ tổ tiên, thân thể ta là của mẹ cha, chân tay ta là người anh em, thịt da ta là bà con họ tộc.Sự gìn giữ nó trong một thể thống nhất thì sự chia sẻ niềm vui và nỗi lo âu của nhau mới có ý nghĩa. Phải khuyến khích nhau gắng sức làm điều thiện để bảo vệ dòng giống mãi mãi (tám chữ này là cốt tủy của toàn bài, nên suy nghĩ thuần thục mà gắng sức thi hành). Khi có người nào mắc lỗi, người trong họ nếu như có sự trách móc quá đáng, kịp khi dẫn tới hoặc nạn nguy hiểm, hoặc có thể lo liệu thay, hoặc đương đầu với sự khó nhọc. Khi sự việc đã êm xuôi lại bồi dưỡng cho người đó cơm cháo tươm tất. Ngạn ngữ nói: “thuốc đắng sẽ sinh ra da thịt. Đại để là như thế.

Cảnh sống yên vui, người làng như người thân.Kịp khi động đến cái lợi, cái hại cá nhân sẽ dẫn đến chẳng đầu độc nhau thì dồn nhau tới hình luật, đã chôn nhau xuống hố rồi còn lấy đá đè lên.Cho nên ngạn ngữ nói : “mật ngọt chết ruồi”, sự đời là như vậy.Thử xem trong hàng phe, hàng giáp trong làng, nắm tay nhau cười cười nói nói vui vẻ, kịp sáng sớm mà chết chưa vào quan tài thì chiều đã xóa tên người đó!

Hãy nhìn vào tông tộc, khi sống thì ăn uống với nhau ở từ đường, khi qua đời thì lễ người chết tiếp theo lễ tổ tiên ở miếu vũ (miếu vũ tức là từ đường), cả họ nhớ tiếc. Những dịp lễ tểt trong năm đều nhớ tới người đó, quả là chẳng ai nghĩ đến chuyện lễ dày hay lễ mỏng. Qua đó khiến người ta suy nghĩ về sự quay về với cội nguồn. Sự suy nghĩ việc tôn kính tiên tổ, thân thiết với người trong họ, đó là nghĩa vụ số một của đời người. Nói về việc tôn kính tiên tổ phải như thế nào? Đó là phải bồi đắp công đức mà tiên tổ dựng nền tảng, tu sửa từ đường, củng cố phần mộ cho vững chắc, sạch đẹp, không ngại mệt nhọc, phí tổn. Gọi là thân thiết với dòng tộc là thế nào? Đó là sự ăn ở đầy đặn tử tế, có lễ tiết trên dưới, nhường nhịn lẫn nhau, giữ sự công bằng, giúp đỡ người nghèo khó, răn dạy lỗi lầm, anh em hòa mục, chớ để mất luân thường đạo lý. Tính từ khi tổ ta thiên cư về đất này đã hai trăm năm.Không nhớ được các đời xa chỉ ghi nhớ các đời gần .dõi từ vị cao tằng trở lại đây mấy đời, các vị chức dịch thân hào kế tiếp đến nay đều theo lẽ thường giữ được nghiệp nhà, kính trời làm việc thiện, không trục lợi với người làng, không tranh giành tiếng tăm với ngõ xóm. Điều quan trọng nhất là chọn nơi đất tốt để mộ phần, sửa sang từ đường, răn dạy con cháu lấy lòng trung tín hiếu để ăn ở với nhau.

Ta thuộc lớp sinh sau, mỗi khi xem lại ta, liền nghĩ ngay đến tiên tổ xem mình có lỗi lầm gì không? Kinh thi có nói: “Tự cầu nơi ta thì được nhiều phúc “Lời nói hay như thế, ta cần chú ý rèn luyện, lấy điều thịên cư sử với nhau. Đó là lòng hiếu với tổ tiên, là sự thân ái với họ hàng, hòa mục với làng xóm. Người ta lấy sự hòa (hòa nhã, hòa mục, hòa đồng hòa thiện…) mà thần minh giáng phúc.

Cử nhân PHAN NGÔ CẢNH TUNG


Thursday, December 08, 2005

“Người vợ miền Nam” của thi sĩ Nguyễn Bính
9:00, 06/12/2005


Sau Cách mạng Tháng Tám, khi công tác ở Nam Bộ, thi sĩ Nguyễn Bính đã gặp và cưới một người mà ông thân thương, trìu mến gọi là “người vợ miền Nam” của ông.

Bà Hồng Châu (Nguyễn Lục Hà) - vợ cố thi sĩ Nguyễn Bính năm nay đã 87 tuổi, sống trong một căn nhà nhỏ êm đềm ở làng hoa Gò Vấp - Tp.HCM. Dù ở tuổi “cổ lai hy”, song bà vẫn còn giữ được một trí nhớ mẫn tiệp với một tâm hồn nhạy cảm hiếm thấy. Theo hồi ức của bà Nguyễn Lục Hà thì bà sinh tại Trà Vinh, là con gái út trong một gia đình có hai anh trai. Hai người anh trai ấy đã lần lượt hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Cha bà - ông Gia Lạc vốn gốc người xứ Nghệ, dòng dõi con nhà quan, thấm nhuần chữ thánh hiền. Vì chán ngán cảnh quan lại phong kiến, mà cụ thể là thái độ bạc nhược của vua Khải Định nên đã bỏ cố hương, đi tìm ánh sáng cách mạng. Năm 1925 ông chính thức gia nhập Tổ chức Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Bà Gia Lạc vốn là người phụ nữ chịu thương, chịu khó, cả đời lo lắng, chắt chiu cho chồng con.

Khi sanh ra đứa con gái, ông Gia Lạc đắn đo mãi, cuối cùng đặt tên là Lục Hà, tức bông sen xanh, một loài hoa mọc trong bùn lầy mà sắc hương vẫn luôn thanh khiết. Khi bà Gia Lạc nhắc chồng chọn ngày xỏ lỗ tai cho con gái thì ông Gia Lạc nói chuyện nàng Mạnh Lệ Quân bên Tàu để thể hiện ý định: con gái thời loạn thì cũng phải nuôi chí như trai. Ông không thích ba cái chuyện xỏ lỗ tai. Vậy là cô bé Lục Hà trở thành đứa bé gái không xỏ lỗ tai duy nhất của xóm…

Từ nhỏ Lục Hà đã nổi tiếng thông minh, nghịch ngợm. ông Gia Lạc dạy Lục Hà chữ Nho, nhưng cô bé thích chữ quốc ngữ hơn. Đặc biệt Lục Hà thích nghe chuyện nghĩa hiệp. Mà, đâu xa, cha cô là một thầy thuốc, có lòng thương người hiếm thấy. Lần đó, có tên ăn trộm đến nấp đầu hè, nhưng trời mưa lạnh, hắn chịu không nổi nên ho khan. Biết nhà có trộm rình, nhưng ông Gia Lạc không sợ, không ghét, trái lại đi ra… mời tên trộm vào nhà. Rồi chuyện mẹ cô đi chợ, gặp một người ăn xin nằm co lạnh giữa trời mưa, thương tình cởi cái áo dài cho bà cụ mà mặc cái áo cánh cũn cỡn về nhà, khiến ông Gia Lạc hiểu nhầm “sạc” cho một trận…

Khi vua Khải Định chết, vì cho rằng Khải Định chỉ là ông vua bù nhìn chẳng có công lao gì với nước nhà nên ông Gia Lạc kiên quyết cự tuyệt việc để tang Khải Định. Nhiều người dân ở Trà Vinh cũng làm theo ông. Ngược lại, khi cụ Phan Châu Trinh mất, ông Gia Lạc buồn rầu, coi như nhà đang có tang. Khí tiết cách mạng ở ông Gia Lạc thể hiện rất rõ. Nhưng, hoạt động cách mạng của ông chưa được thành tựu gì thì đã bị mật thám bắt.

Chúng đánh đập ông dã man, hòng lung lạc ý chí, bắt ông khai ra những người cùng chí hướng. Không khai thác được gì, chúng thả ông về. Nhưng do bị đòn dã man, ông thổ huyết nhiều lần và chết vào ngày mồng 8 tết năm Tân Mùi (1931).

Cha mất, nhà chỉ còn hai mẹ con. Lục Hà ráng làm việc đỡ đần mẹ và chí thú học hành. Cô cũng thi đậu vào Trường Nữ học Sài Gòn (nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai, Tp.HCM) nhưng không được học bổng nên lên Sa Đéc học Trường tư thục Montaigne. Hiệu trưởng trường là thầy Đặng Văn Bá (sau này tập kết ra Bắc dạy môn triết ở Trường Nguyễn Ái Quốc). Chính trong ngôi trường ấy, Hà đã gặp được nhiều người thầy đáng kính, có tư tưởng yêu nước, tiến bộ. Những người thầy ấy là tấm gương, là “kim chỉ nam” để cho Hà giác ngộ và đi theo cách mạng.

Cũng trong giai đoạn này, Lục Hà tham gia sáng tác thơ dưới bút danh Hồng Cẩm. Những bài thơ đầy khí phách như “Thanh niên mau thức tỉnh” của Lục Hà bị mật thám ghi vào “sổ đen”. Ngược lại các anh chị trong tổ chức khen Hà lập trường tư tưởng tốt, trình độ cách mạng vững vàng. Thật ra, Lục Hà cũng có làm thơ tình nhưng sợ “bị rầy” nên không gửi đăng báo. Hà tiếp tục học Trường tư thục Phan Thanh Giản, vì đây là trường gần nhà, có lợi cho hoạt động cách mạng. Tháng 9/1938 Hà được tổ chức kết nạp vào Đảng Cộng sản.

(Tiếp theo trang 1)

Lục Hà thích viết báo, nhưng rồi trở thành cô giáo sau khi học khóa đào tạo trợ giảng giáo viên (Cours normal auxiliaire). Là cô giáo, nhưng lại chưa đi dạy ngay mà làm thư ký cho Văn phòng Tỉnh ủy.

Trong thời gian công tác ở đây, Lục Hà gặp Năm Giáo - một người biết làm thơ, đặc biệt giỏi thơ Đường. Thật ra Năm Giáo tên chính là Võ Hoàng - Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Trà Vinh. Dưới vỏ bọc một thầy giáo - Năm Giáo phụ trách huấn luyện chính trị và vận động kháng chiến. Giữa Lục Hà và Năm Giáo dần dần nảy nở những tình cảm êm đẹp, khó bày tỏ bằng lời. Họ yêu nhau. Tình yêu và tình đồng chí không tạo ra những hố ngăn, trái lại họ biết tạo ra những chất men cho tình yêu và công việc.

Nhưng rồi Năm Giáo bị bắt. Lục Hà chới với. Nhưng vượt qua đau khổ, Lục Hà chợt có quyết định sáng suốt: thoát ly. Đó là một buổi chiều mùa đông năm 1940, Lục Hà rời khỏi Trà Vinh. Sau lưng Lục Hà là ánh mắt chứa chan của người mẹ già. Từ đó, Lục Hà bắt đầu dấn thân vào con đường cách mạng. Để tránh bị lộ và bị bắt, Lục Hà tạo nhiều vỏ bọc, khi ở Vĩnh Long, lúc Sài Gòn.

Thương con gái, một thân một mình ở xứ lạ, bà Gia Lạc lặn lội tìm Lục Hà. Nhưng tình thương của người mẹ đã vô tình dẫn tới một hậu quả khôn lường. Vừa về nhà hôm trước thì hôm sau ngày 8/5/1941, Lục Hà đã bị bắt và bị chúng tra tấn dã man. Câu hỏi đầu tiên chúng nêu ra là: “Năm Giáo có phải là Võ Hoàng - Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh?”. Lục Hà một mực: “Tôi không biết”. Và, thế là cô bị chúng tra tấn đến chết đi sống lại nhiều lần. Để quên đi đòn thù và để giữ vững khí tiết cách mạng, Lục Hà tiếp tục làm thơ. Những bài thơ trong tù của cô là vũ khí chống lại kẻ thù. Cuối năm 1943, Lục Hà được đưa về quản thúc ở Trà Vinh.

Trước khi đến với Nguyễn Bính, Lục Hà đã lấy chồng là thầy giáo Tâm, sinh một đứa con gái tên Quốc Thoa. Sống với nhau chỉ vài năm, họ chia tay, vì thầy giáo Tâm không chịu được cảnh vợ cứ mãi đi lo “việc thiên hạ”. Bé Quốc Thoa sau đó cũng qua đời vì bệnh. Khi Nguyễn Bính vào Nam là lúc Lục Hà công tác tại báo “Tiếng súng kháng địch” của Quân khu IX. Đấy là một tờ báo có uy tín lúc bấy giờ với nhiều tên tuổi nhà văn, nhà báo như Rum Bảo Việt, Phạm Anh Tài (Sơn Nam), Hà Huy Hà, Lưu Quý Kỳ v.v…

Có một chi tiết đặc biệt thú vị là cuộc hôn nhân giữa Nguyễn Bính và Nguyễn Lục Hà được chính đồng chí Lê Duẩn làm “ông tơ”. Thực ra khi đồng chí Lê Duẩn giới thiệu “nhà thơ vô sản” Nguyễn Bính cho Lục Hà, thì cô đã “hồn xiêu phách tán” trước chàng thi sĩ chân quê này rồi.

Ngày 2/9/1951, Lục Hà khai trương tiệm sách Hồng Châu cũng là ngày Nguyễn Bính cậy nhờ má Ba - một bà mẹ chiến sĩ chính thức đem trầu cau đến nói chuyện cưới xin với bà Gia Lạc. Rằm tháng mười năm 1951 họ chính thức làm lễ thành hôn.

Khi Lục Hà có mang, Nguyễn Bính nói nếu sanh con gái sẽ đặt tên là Anh Thơ, còn là con trai thì lập một dòng họ Nguyễn Bính Hồng… Nguyễn Bính nói chưa dứt câu thì bị Lục Hà “cự” liền: “Tại sao con tôi mang nặng đẻ đau mà anh lấy tên người khác đặt cho nó?”. Lục Hà nói, cô không ghen với những cuộc tình của Nguyễn Bính. Nhưng Nguyễn Bính nên để cô thể hiện quyền làm mẹ. Nguyễn Bính đuối lý. Dù vậy, khi vợ đặt tên con là Nguyễn Hồng Cầu thì Nguyễn Bính giận, thấy mình bị “mất phần” nên cố nói người làm hộ tịch ghi thêm vào đó chữ “Bính”, thành ra tên Nguyễn Bính Hồng Cầu…


Việt Trần



Việt Trần


Wednesday, December 07, 2005

Tam Bách Dư Niên Hậu

http://www.talawas.de/
talawas , ở Đức , có loạt bài để kỷ niệm Nguyễn Du ...
Đáng nên phổ biến. Tôi nghĩ vậy , nên đem vào đây.
http://www.talawas.de/

Tuvota.

Saturday, December 03, 2005

Nhà Thờ Phát Diệm

http://www.photo.com.vn/Forums/viewtopic/t=303.html
http://www.photo.com.vn/Forums/viewtopic/t=303.html
TVT
Lần này điểm dừng chân đầu tiên của các thành viên photo.com.vn là nhà thờ Phát Diệm - Ninh Bình.

Các Thành Viên Tham Gia: longpt (Canon EOS III) , Nason (Canon 20D) , Sicily198x (Canon 10D), loayhoay(Nikon D70) , having_bath (Canon 1Ds Mark II) , hanoiroxy1996( Canon G6)

Thời Gian Xuất Phát: 3giờ30 sáng chủ nhật 17 tháng 7 năm 2005 ( về đến Hà Nội 22giờ30 cùng ngày )

Đường Đi: Theo quốc lộ 1 từ Hà Nội vào đến Thị Xã Ninh Bình 95KM rẽ phía Đông Nam đi theo đường số 10 được 28km là tới thị trấn Phát Diệm. Ở bên trái thấy cây cầu ngói cổ (cầu có mái ) đi thêm chừng 100 m rẽ sang tay phải (hướng bắc) theo một con đường trải nhựa dài khoảng 250 mét dân ở đây quen gọi là đường giữa thì đến khu Nhà Thờ Phát Diệm.

Mời các bạn đến thăm quan nhà thờ Phát Diệm qua góc nhìn của các nhiếp ảnh gia nghiệp dư


Phần 1: Cái nhìn tổng quan về nhà thờ Phát Diệm
Phần 2 : Một số chi tiết kiến trúc đẹp
Phần 3: Con người Phát Diệm
Phần 4: Hậu Trường và vui nhộn


Phần 1:
Tổng Quan về nhà thờ Phát Diệm:

Quần thể nhà thờ Phát Diệm gồm 1 nhà thờ lớn và 5 nhà thờ nhỏ (trong đó có một nhà thờ được xây dựng bằng đá tự nhiên, được gọi là nhà thờ đá), 1 phương đình (nhà chuông, quả chuông nặng gần 2 tấn, tiếng chuông ngân 3 tỉnh nghe tiếng: Nam Định, Ninh Bình và Thanh Hoá), ao hồ và 3 hang đá nhân tạo. Công trình kiến trúc được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa này được khởi công xây dựng 1875 và hoàn thành sau 24 năm (1899) dưới dự chỉ đạo của Linh mục Phêrô Trần Lục (Cha Sáu) và công sức giáo dân Kim Sơn. Điểm đặc biệt của nhà thờ Phát Diệm là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc nhà thờ châu Âu và kiến trúc đình chùa Việt Nam.

Vị Trí :
Thuộc địa phận thị trấn Phát Diệm huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội 130 km về phía Nam

Nguồn Gốc :
Phát Diệm có nghĩa là phát sinh ra cái đẹp, tên Phát Diệm do Nguyễn Công Trứ đặt. Kim Sơn vốn là vùng đất mới khai khẩn, trước đây rất lầy lội, để xử lý độ lún của khu đất trước khi xây dựng người ta đã chuyển cả một quả núi nhỏ cách 40 km về Phát Diệm, khách về thăm nhà thờ còn thấy núi Sọ, đấy chính là một phần của trái núi đã được dân rời về Phát Diệm
Nhà thờ lớn Phát Diệm khởi sự dựng lên năm 1891 cho tới khi thượng lương (dựng nóc), ngày 23 tháng 6 chỉ trong vòng ba tháng. Cha Trần Lục dâng hiến thánh đường kính Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi. Thánh đường hoàn tất vào bốn năm sau là năm 1895. Trước ngày khởi sự dựng lên, việc chuẩn bị sắm vật liệu gỗ đá và tụ chân móng đã kéo dài mười bốn năm về trước, nghĩa là từ năm 1877. Công trình toàn bộ còn tiếp tục trong nhiều năm sau, cho đến năm cha Trần Lục qua đời (1899).

Nét Đặc Trưng
Ông Nguyễn Văn Giao, hướng dẫn viên phục vụ Nhà thờ cho biết: "Nói công trình này giống đình chùa là rất đúng. Cha Trần Lục- người kiến trúc sư của công trình có mong muốn rằng, qua công trình này nói lên tính chất hòa hợp và sự hội nhập giữa đạo công giáo với nền văn hóa kiến trúc của dân tộc cũng như sự hòa hợp giữa công giáo với các tôn giáo khác ở Việt Nam; nói lên tính đoàn kết".

Mặt bằng tổng thể được bố trí tuần tự, từ ngoài vào là ao hồ rồi một sân rộng, kế đến là Phương Ðình có chung sân trong với Nhà Thờ Lớn. Phía cuối là hang Bê-lem và Lộ-đức. Nhà Thờ Lớn còn là trọng tâm và là trục đối xứng của 4 Nhà Nguyện nhỏ: 2 Nhà Nguyện kính Thánh Giu-se, Thánh Phê-rô ở bên trái, 2 Nhà Nguyện kính Thánh Rô-cô và Trái Tim Chúa Giê-su ở bên phải. Giáp phía Tây Bắc là Nhà Thờ Ðá kính Trái Tim Ðức Mẹ, có hang Núi Sọ ở phía trước. Toàn bộ diện tích còn lại ở phía sau được dành cho các cơ sở của Nhà Chung.

Như vậy, đa số các công trình trong quần thể đều được bố trí trải dài theo một trục chính và đối xứng qua trục, tuân theo những quy luật bố trí rất phổ biến trong mặt bằng các kiến trúc tôn giáo truyền thống. Quy luật tổ hợp này đảm bảo cho mặt bằng quần thể tuân thủ được thứ tự bố cục các công trình theo chiều sâu, đồng thời vẫn có thể trải dài mặt đứng theo diện rộng. Ðây cũng còn là cố gắng nhằm giữ được phong cách xử lý mặt đứng phát triển trên phân vị ngang, một đặc trưng khác của kiến trúc truyền thống

Kiến trúc sư Đoàn Khắc Tình, Cán bộ Hội Kiến trúc sư Việt Nam đánh giá: "Nhà thờ Phát Diệm là một quần thể kiến trúc khá hoàn hảo và kế thừa kiến trúc truyền thống. Công trình này trải qua thời gian xây dựng là ¼ thế kỷ. Phát Diệm là vùng đất bãi bồi ven biển nên để xây dựng công trình với khối lượng lớn vật liệu sử dụng chất liệu đá rất nặng việc xử lý tải trọng và nền móng công trình được các nhà xây dựng nên nhà thờ Phát Diệm quan tâm cho nên sau hơn 100 năm tồn tại về cơ bản, nền móng vẫn còn tốt. Với một trình độ hoàn toàn thủ công thời bấy giờ, quả là một kỳ công…".

Toàn cảnh quần thể nhà thờ Phát Diệm


2. Ao Hồ
3. Tượng Chúa Jesu
4. Cổng Nhỏ Đông
5. Cổng Đá Đông
6. Phương Đình
7. Sân giữa & Lăng Cụ Sáu
8. Nhà Thờ Lớn
9. Nhà Thờ Thánh Giuse
10. Nhà thờ thánh Phê rô
11. Nhà Thờ Đá
12. Núi Sọ
13. Hang đá Belem
14. Vòi Phun Nước
15. Toà Giám Mục
16. Hang Đa Lộ Đức
17. Nhà thờ trái tim chúa Jê su
18. Nhà Thờ Thánh Rôcô
19. Nhà Hát nam Thanh

Theo một số nhà nghiên cứu, tổ hợp mặt bằng này còn hợp cách với các quy luật tổ hợp theo Ðịa lý - Phong thủy, với cách "phân thế" theo sơ đồ sau:



Về hình dạng mặt bằng công trình, nếu hình dung một vạch ngang thứ nhất nối liền qua hai cổng Nhà Thờ (đi ngang qua Phương Ðình và sân trong), vạch ngang thứ hai nối Nhà Nguyện kính Thánh Rô-cô đến Nhà Nguyện kính Thánh Giu-se, và vạch ngang cuối cùng nối từ Nhà Thờ kính Trái Tim Chúa Giê-su đến Nhà Nguyện kính Thánh Phê-rô, chúng ta có được 3 vạch ngang, hợp với vạch sổ dọc là Nhà Thờ Lớn kính Ðức Mẹ Mân-côi, thành một chữ VƯƠNG theo Hán tự.


Phải chăng đây là hàm ý của tác giả công trình muốn thể hiện lòng xác tín vào Ðức Ki-tô là Con Thiên Chúa, là Vua của muôn dân, của vũ trụ?




Du khách ngày nay bước vào khu thánh đường trước hết phải vòng quanh một cái ao hồ rộng một mẫu, ở giữa hồ trên một cái gò nhân tạo có tượng Chúa Giê-su Vua cao 3 mét (1925).




Du khách bước vào sân rộng lớn qua cổng đá phía tây. Sân này cũng rộng tới một mẫu, sân lát đá thước làm đường kiệu chung quanh nhà thờ, những chỗ khác lát gạch Bát Tràng.Số 5 trên sơ đồ



Trên sân là phương đình (nhà vuông), hình dáng như cái đình làng rộng lớn trống trải, ngang 24 mét, sâu 17 mét, cao 25 mét, ba tầng. Tầng giữa có một trống cái, tầng trên cùng có quả chuông nam cao 1,9 mét (đúc năm1890), đường kính 1,1 mét, nặng gần 2 tấn, âm thanh vọng đi xa tới 10 cây số. Phương đình hoàn thành năm 1899, là công trình sau hết của cha Trần Lục, và theo ý kiến của nhiều người, là kiệt tác của toàn bộ.

Phương Ðình là phòng họp chung, có những bàn đá để ngồi. Bánh chưng vuông tượng trưng cho đất. Mọi sinh hoạt trần thế được qui tụ nơi đây, gồm cả “hoa mầu ruộng đất và lao công của con người”, buồn, vui, đắng, ngọt. Mọi diễn trình của cuộc sống đều có góc có cạnh. Cả con người cũng bị giới hạn bởi không gian và thời gian trong cái bị thịt như cái hộp vuông góc. Nhưng trong thâm tâm con người luôn ước vọng vươn tới vô biên. Cõi vô biên toàn mãn của trời được tượng trưng bằng bánh dầy tròn.

Những bế tắc nhốt giam trong cái hộp vuông thì ai cũng cảm thấy. Nhưng đây là con đường hóa giải: Bước vào đình vuông là dám chấp nhận thực trạng cuộc sống với tất cả mọi khía cạnh, và di chuyển vào nhà thờ để cho sức thiêng cảm hóa thành hòa hợp vuông tròn. Ðây là cả một đạo lý sống được diễn ra bằng đường nét hiển hiện, như một qui trình đạt vuông tròn, mẹ tròn con vuông. Chứ những con đường duy vật, chỉ cậy dựa vào sức riêng của cái hộp vuông hữu hạn, thì chỉ mang lại những hậu quả chém giết hãi hùng như đã từng thấy trong lịch sử nhân loại
Số 6 trên sơ đồ




Mặt tiền nhà thờ lớn dưới có 05 lối vào bằng đá, phía trên có 03 tháp vuông bằng gạch có mái cong. Trên đỉnh tháp giữa, có tượng hai thiên Thần cầm thánh giá, hai bên là hai thiên thần khác nổi loạn, dưới là bốn chữ hán"Thẩm Phán Tiền Triệu ("Điềm báo trước ngày Phán xét)

Bước qua Phương Ðình vào Nhà Thờ Lớn, bạn đang đi vào một diễn trình biến đổi. Từ một nếp sống tầm thường đến một cuộc sống hoàng vương như hoàng tử Tiết Liệu đã làm với của lễ bánh chưng vuông hòa hợp với bánh dầy tròn. Từ những góc cạnh nhọn hoắt của đất thấp đến vòng tròn viên mãn trời cao.

Cụ Sáu Trần Lục quả là đã thấy được sức mạnh biến đổi của tiềm thức khi xây Nhà Thờ Lớn với một bầu khí như hang động. Từ ngoài bước vào trong, phải một lúc mới nhìn rõ, vì bên trong tối hơn bên ngoài nhiều, tạo nên một bầu khí trầm mặc thuận tiện dìu con người vào một chiều kích siêu vượt. Năm cửa chính của Nhà Thờ Lớn điêu khắc những bức tiêu biểu kỳ bí của sự hợp thông hai lối kiến trúc đông - tây, hình ảnh đạo Chúa nằm bên cạnh hình ảnh bông sen của Phật, hai thế giới xem ra xung khắc. Yvonne Schultz trong báo Illustration ngày 9.11.1929 đã nhận thấy như sau:

“Những bông sen, cây cau, cây chuối che bóng những cảnh Thánh Kinh, mấy chú bò mọc sừng trâu, những nhân vật giống dáng người sơ khai, nhưng lại mang vẻ mặt người Phật giáo... Tất cả những điêu khắc kỳ lạ đó làm tôi ngỡ ngàng và cảm phục vô cùng.”

Người Da Ðỏ thường làm lễ Quan cho một đứa con bước vào tuổi trưởng thành bằng cách đưa vào trong một cái hang trống. Vào trong hang trống là vào cõi huyền nhiệm, để con người vượt ra khỏi cái hộp không gian và thời gian chật hẹp thường ngày, mà vươn tới một chiều kích mới rộng mở. Ðó là chiều kích thư tư, chỉ có thể thấy được bằng con mắt thứ ba, con mắt của tâm.

Như vậy, nhà thờ tự căn bản, là cái “hang trống”, để con người có thể vươn tới huyền nhiệm. Và các nghi lễ phụng vụ phải là những tác động dẫn con người vào chiều kích này. Ðến nhà thờ hay tham dự phụng vụ, chẳng phải để nghe hiểu cái này điều kia, mà là một cuộc biến đổi sâu xa bằng tác động, bằng biểu tượng.

Ðể tạo bầu khí “hang trống” huyền linh, nhà thờ thường đừng quá nhiều ánh sáng mà phải trầm mặc u linh. Âm thanh phải siêu thoát, thường được phả bằng tiếng phong cầm như gió thoảng qua ống tre ống trúc, chứ không phải là những điệu nhạc ù tai nhức óc làm bấn loạn tâm thần. Mùi hương dịu thơm làm thư giãn khứu giác và làm cho hơi thở trầm lại êm ả.

Cái bầu khí tròn “hang trống” như trên phải được đề cao để thay thế cho những ồn ào náo động của nhiều nhà thờ, chỉ khiến người tham dự thêm mệt mỏi hơn là tìm thấy an bình thảnh thơi để vươn tới một thực tại siêu vượt. Và nếu phụng vụ Công Giáo không dẫn con người đến được chiều kích thứ tư này thì xì ke ma túy sẽ được thay thế vào đó với hậu quả tai hại biết chừng nào. Và hiện tượng xảy ra là một số giới trẻ Công Giáo chạy theo những nhóm đạo thần bí, một số khác kể cả người có tuổi cũng hồ hởi với những niềm tin rất ư hiếu kỳ như nhân điện của hỏa xà Kundalini trong những luân xa nhặt được ở mãi bên xứ Ấn.

Giáo sư Kim Ðịnh đã nhận xét thật sâu xa về nghệ thuật nói chung, có liên hệ đến kiến trúc và những xếp đặt tạo bầu khí phụng vụ:

“Lý tưởng nghệ thuật là cố gắng biểu lộ vô biên xuyên qua những cái hữu hạn. Vì thế khi tiếp nhận với nghệ thuật chân chính ta cảm thấy cái chi như thấm vào tâm hồn, như được vén màn lên để chạm tới cái chi man mác. Ðiều này dẫn tới một nhận xét khác là lý tưởng của nghệ thuật cũng chính là lý tưởng con người, vì con người cũng luôn luôn hướng về siêu việt. Có thể nói, lý tưởng của nghệ thuật sao, lý tưởng con người cũng vậy: tức cũng như nghệ thuật, con người luôn cố gắng kết hợp với cái chi vô biên thường được gọi là thần là thánh.” (Sứ Ðiệp Trống Ðồng, trang 90).









Mặt tiền nhà thờ lớn nhìn từ một góc khác




Thánh đường lớn gồm chín gian với sáu hàng cột gỗ lim, tổng cộng bốn mươi tám cây cột đỡ lấy bốn mái, mười sáu cây cột ở giữa chu vi 2,35 mét, cao 11 mét, nặng 7 tấn. Ở gian trước cung thánh, trên thượng lương (xà dọc cao nhất) có ghi ngày dựng nóc 17 tháng 5 năm thứ ba Thành Thái (23.6.1891). Trên cung thánh (cao hơn hai bậc, hai gian, không cột), Du khách nhìn ngắm cái bàn thờ là một khối đá dài 3 mét, rộng 0,9 mét, cao 0,97 mét, ba mặt có chạm trổ hoa lá. (Tháng 10 năm 1990, nhân dịp khai mạc kỷ niệm một trăm năm có đặt thêm một bàn thờ trông xuống bằng một phiến đá dài 3 mét, rộng 0,9 mét, dày 0,2 mét). Tiếp lên cao tới nóc là toàn bộ gỗ chạm khắc tinh xảo sơn son thiếp vàng (vàng y) chói lọi. Chính giữa là toà Đức Mẹ bế Chúa Con phía trên có bảy cửa kính vẽ hình sáu thánh tử đạo đứng hai bên Chúa Giê-su Vua. Trên cùng là khung ảnh Đức Mẹ ban tràng hạt Mân Côi cho thánh Đa-minh, chung quanh có mười hai thiên thần.


Hai bên thánh đường toàn là cửa gỗ, mỗi bên hai mươi tám cánh. Hiên rộng 1,5 mét nền đá, nhìn chiều dài hun hút 74 mét, rộng 21 mét. Lùi xa một chút, khách thấy mái thánh đường có hai tầng, giữa mái trên và mái dưới là một hàng cửa sổ để lấy ánh sáng và không khí.



Wednesday, November 30, 2005

" hóc bà Tó "

Đất Đồng Hới có cái bàu Tró nổi tiếng, bao nhiêu người đã đưa ra những kiến giải về tên gọi này nhưng chưa thỏa đáng.

Vậy là cụ Tú lặn lội vào tận Phan Thiết nghe người Chăm nói, tra cứu từ điển Chăm - Việt để biết

tró chính là từ chỉ đồ gốm

như chum, ché.
Và điều này liên quan đến vệc khai quật khảo cổ học ở Bàu Tró với hàng vạn mảnh gốm cho thấy
một thời kỳ thịnh vượng của kỹ nghệ đồ gốm (khái niệm văn hóa Bàu Tró đã được các nhà khảo cổ học dùng để chỉ chung cho
nền văn hóa hậu kỳ đá mới ở

các tỉnh ven biển miền Trung từ Nghệ An vào tận Thừa Thiên - Huế).
============================================
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/I...63&ChannelID=89
Phải chăng đây là cái Hóc ( chỗ hang hóc , vùng sâu , vùng xa ...) Bàu Tró .
Hóc Bàu Tró
Và dần dần hóa ra cái " hóc bà Tó "
Anmota .
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/I...63&ChannelID=89
__________________
You Can Do It !

Tuesday, November 29, 2005

NỀN GIÁO DỤC PHÚ YÊN

NỀN GIÁO DỤC PHÚ YÊN
Từ thành lập Tỉnh 1611 đến 1975

Trần Tịnh, Ph.D.

Theo tiến trình lịch sử, giáo duc chỉ được tiến hành sau khi ổn định nền hành chánh. Đăëc biệt, đối với Phú yên nguyên là vùng đất của Chiêm thành, phải có thời gian cần thiết đề ổn định trên mọi phương diện, nhất là về an ninh, khẩn hoang, thành lâäp thôn, ấp, dân chúng an cư, nhiên hậu việc giáo dục mới đề cập. Lịch sử Phú yên kể cả khoa cử và giáo dục ở tỉnh này liên quan mật thiết đến cuộc Nam tiến của dân tộc, nội tình Xứ Đàng Trong, cuộc khởi nghĩa của Tây sơn, phục quốc của Gia Long, cuộc Chiến tranh thứ I (chiến tranh Việt Pháp), và sau hết là cuộc Chiến tranh thứ II (Chiến tranh Quốc Cộng) Do đó, thảo luận về nền giáo dục Phú yên từ thành lập tỉnh, 1611, đến 1975 sẽ được chi tiết làm năm giai đoạn:

Giáo dục thời Chúa Nguyễn,

Giáo dục thời Nguyễn Tây sơn

Giáo dục thời nhà Nguyễn

Giáo dục thòi Việt Minh – Cộng sản

Giáo dục thời Việt Nam Cộng Hòa

1) Giáo Dục Thời Chúa Nguyễn

Nền hành chánh Phú yên được chánh thức thành lập vào năm Tân hợi, 1611, khi Chiêm thành xâm lấn biên cảnh, chúa Nguyễn Hoàng sai Chủ sự Văn Phong đánh dẹp, lấy từ Cù mông đến Thạch bi đặt làm Phủ Phú yên gồm hai huyện Đồng xuân và Tuy hòa. Văn Phong được bổ nhậm làm Lưu thủ. Trước thời điểm này, ngày 27 tháng 2 Hồng đức thừ 2 (năm Tân sửu, 1471), vua Lê Thánh Tôn tấn công Chiêm thành, lấy núi Thạch bi làm giới hạn. Mãi đến năm Mậu dần, 1578, chúa Nguyển Hoàng bổ nhậm Ông Lương văn Chánh làm Tri huyện Tuy viễn để dẹp yên biên trấn, chiêu tập lưu dân đến ở Cù mông, Bà đài (nay là Xuân đài) và khẩn hoang ở sông Đà diễn. Từ năm Tân sửu 1471 đến năm Mậu dần 1578, từ Cù mông đến Thạch bi còn là đất ki-mi (đất bỏ ngỏ).

Năm Kỷ tỵ, 1629, Lưu thủ Văn Phong dùng quân Chiêm thành làm phản, chúa sai Phó tướng Nguyễn phước Vinh (con trưởng Mạc cảnh Huống lấy Công nữ Ngọc Liên, chúa Hy Tông ban quốc tánh Nguyễn phước) đánh dẹp và đổi Phủ Phú yên thành Dinh Trấn Biên gồm 38 thuộc (thuộc dưới thời Chúa Nguyễn là nơi rừng núi, dọc khe, dọc biển) và đặt quan Tuần thủ.

Năm 1653, Vua Chiêm thành tấn công Phú yên, chúa Nguyễn phúc Tần sai tướng Hùng Lộc đem binh đánh đuổi, vượt núi Thạch bi, chiếm lĩnh và tổ chức đất Khánh hòa, phần bắc Bình thuận đến Phan rang.

Đời chúa Thần Tông, quân Nguyễn đại thắng trong trận đánh Trịnh-Nguyễn năm Mậu tý, 1648, đã bắt được30.000 quân Trịnh. Chúa Nguyễn quyết định đưa 30.000 tù binh này khẩn hoang lập ấp từ Thăng hoa, Điện bàn đến Phú yên. Cứ 50 ngươì làm một ấp, cấp cho lương ăn nửa năm, cho khai thác khai thác những nguồn lợi núi, đầm. Chúa lại ra lệnh cho nhà giàu cho họ vay thóc.

Với tình trạng chiến tranh với Chiêm thành và tranh chấp quyền chính nội bộ, dùng lưu dân và tù binh để khai khẩn, thiết lập làng ấp nói trên, để có một cuộc sống an cư lạc nghiệp, Phú yên, tất yếu, phải có một thời gian cần thiết để bắt đầu cho một nền giáo dục công lẫn tư. Hơn thế nữa, ảnh hưởng lớn trong phát triển giáo dục là việc thi cử để tuyển chọn nhân tài tham chính bị hạn chế dưới thời chúa Nguyễn, vì:

· Chúa nguyễn chỉ dùng người bản tộc(họ Nguyễn), người bản huyện (cùng huyện với chúa Nguyễn), và những người quê quán ở Thanh hóa, nơi nguồn gốc của họ Nguyễn.

· Chức quan trọng yếu như Chưởng Dinh, Cai Cơ, Cai Đội, đều là hạng người kể trên.

· Giòng dõi họ Nguyễn, đời đời được chước trừ sưu sai, tạp dịch.

· Những người quê quán xứ Thuận hóa, xứ Quảng nam[1] đều gọi là người bách tính (dân trăm họ). Nếu có yêu cầu, dân bách tính chỉ được giữ chức Cai Nguyên đầu (Cai coi đầu nguồn), hoặc Đội Thủ ngự (coi việc canh gác và ngăn chặn trộm cướp), hoặc chức Đội để trông coi thổ binh lặt vặt mà thôi.

· Dưới thời Dũng Quận công, Nguyễn phúc Tần (tức chúa Hiền) có lệ cấm học sinh ứng thí. Trong suốt 40 năm, chúa Nguyễn phúc Tần không lấy một người đậu Nhiêu hocï[2]. Qua nhiều kỳ thi tuyển duyệt, không cho khảo thí các sĩ tử Chính đồ[3]à và Hoa văn[4] tại xứ Thuận hóa và xứ Quảng nam.

Như trình bày trên, sau khi ổn định cư trú, an sinh (sử sách không ghi rõ thời gian, có lẽ ít nhất cũng một vài thập kỷ. Căn cứ này được nhận định vì mãi đến năm Bính thân, 1776, tại tuyển trường xứ Quảng nam, một người Phú yên, Trần văn Kiến, ngươì huyện Đồng xuân mới được thăng chức Ký lục huyện. Còn lại, phần lớn tại huyện Đồng xuân và Tuy hòa chỉ là các Nhiêu học trúng cách trong các kỳ duyệt tuyển lớn trong Phủ. Cũng căn cứ vào sử sách và chế độ học ngày xưa do triều Nguyễn để lại, trường công của chúa chỉ mở tại Chính Dinh và các Phủ, Huyện; trường tư mở tại thôn, ấp hay tư gia. Tuy vậy, người được đi học rất ít, phần nhiều là thất học, vì đa số nghèo.

Chương trình học

Trường dạy chữ Nho, hầu hết các sách đều là của Trung hoa, gồm phú, thơ, tứ thư (Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học, Trung dung), ngũ kinh (Dịch, Thi,Thư, Lễ, Xuân Thu), Nam, Bắc sử, Tam giáo, Bách gia chư tử. Đây là một lối học kinh điển, học để hiểu rõ cương thường, đạo lý. Bài học nào cũng là bài học đạo lý. Đàng Trong, chúa Nguyễn không mở trường Đại học.

Khoa cử

Từ Thụy quận công Nguyễn phúc Nguyên đến Đỉnh quốc công Nguyễn phúc Chu, mỗi 5 năm có một kỳ khảo thí Nhiêu họcHoa văn gọi là “Xuân thiên quận thí” (kỳ thi tại quận trong mùa xuân), sĩ nhân trong các huyện tề tựu tại dinh bản trấn để ứng thí. “Xuân thiên quận thí” đầu tiên được tổ chức sau năm Nhâm thân,1632, khi Lộc khê hầu Đào duy Từ đề nghị thi hành phép “duyệt tuyển” (“duyệt tuyển” được tổ chức vào 6 năm một lần; tại Phủ Phú yên có một tuyển trường, trong kỳ duyệt tuyển lớn có kỳ thi Nhiêu học).Với “Xuân thiên quận thí” đầu tiên, Phú yên đã trưởng thành trên hai thập kỷ, kể từ ngày thành lập Phủ. Khoa thi được tổ chức trong một ngày. Đề thi là 1 thú thơ (1 bài thơ) và một bài văn sách. Văn sách là bài nghị luận, đầu đề thường đưa ra là Tứ thư, Ngũ kinh, Nam hoặc Bắc sử, Tam giaó , Bách gia chư tử. Ban Giám khảo gồm Tri phủ và Tri huyện chấm sơ khảo, quan Ký lục bản dinh chấm phúc khảo. Người trúng tuyển là “Nhiêu học tuyển trường” được miễn sai dịch trong 5 năm. Sai dịch gồm có tiền và gạo và khỏi đi lính trong thời gian này. Dưới thời chúa Nguyễn không có thi Hội như ở Bắc Hà.

Năm 1646, chúa Nguyễn phúc Tần định phép mỗi 9 năm mở khoa thi Chính đồ và khoa Hoa văn, mỗi khoa thi ba ngày. Khoa thi ấy gọi là Thu vi Hội thí. Năm sau, 1647, hai khoa Chính đồ và Hoa văn đầu tiên được áp dụng. Sĩ tử tề tựu tai Phú xuân, Chính dinh, để ứng thí.

Khoa Chính đồ thi ba ngày:

Ngày đầu, thi ba đề mục văn Tứ lục[5]

Ngày thứ hai, thi một đề thơ, một đề phú[6]

Ngày thứ ba, thi một đề Sách vấn

Quan trường gồm:

Tri phủ, Tri huyện chấm sơ khảo

Ký lục Cai bạ chấm phucù khảo

Ký lục Nha úy làm Giám phúc (Chánh chủ khảo)

Kỳ thi này gồm ba hạng trúng tuyển:

* Hạng Giáp, làm Hương cống, được tuyển làm Tri phủ hay Tri huyện.

* Hạng Aát, làm Sinh đồ, được tuyển giữ chức Nho học hay Huấn đạo (giáo chức tại huyện).

* Hạng Bính , cũng được làm Sinh đồ hoặc được bổ nhiệm giữ chức Lễ sinh (trông coi việc tế lễ), hoặc được làm Nhiêu học suốt đời.

Khoa Hoa văn thi ba ngày, mỗi ngày làm một bài thơ. Người trúng tuyển được tuyển dụng làm việc ở tam Ti: Xá sai ti, Tướng thần lại ti và Lệnh sử ti.

Năm Aát hợi, 1695, sau khoa thi Chính đồ và khoa Hoa văn, chúa Nguyễn phúc Chu mở khoa thi Văn chức và thi Tam ti trong phủ Chúa . Thi Văn chức gồm Tứ lục, thơ phú, văn sách. Thi Xá sai ti gồm việc binh lính, lương bỗng, từ tụng, Thi Tướng thần lại tiLệnh sử ti thì chỉ làm một bài thơ.

Năm Canh thân, 1740, chúa Nguyễn phúc Khoát tái qui định khoa cử, khoa Thu thi năm này thi bốn ngày:

Ngày đầu thi ba bài văn sách. Người trúng tuyển được làm Nhiêu học tuyển trường, miễn tạp dịch, miễn nạp tiền và gạo trong 5 năm.

Ngày thứ nhì thi một bài thơ và một bài phú và ngày thứ ba thi hai bài Kinh nghĩa. Người trúng tuyển được làm Nhiêu học thi trúng, được miễn các hạïng sai dịch suốt đời.

Ngày thứ tư thi một đạo văn sách vấn. Trúng tuyển được làm Hương cống và được bổ nhiệm làm Tri phủ, Tri huyện hay Huấn đạo.

Trong thời chúa Nguyễn cai trị xứ Đàng trong, Phủ Phú Yên, phần lớn thi đậu Nhiêu học tại tuyển trường Phủ. Sử sách không ghi nhận có người thi đậu Hương cống .Những nhà văn học đã đỗ đạt va nổi danh đương thời như Trần văn Kiến làm đến chức Ký lục huyện, Phan văn Liên, Lưu quốc Thắng và Võ văn Cao là những nhân sĩ sau này đã phò tá dưới triều Tây sơn.

Giáo Dục Thời Nhà Nguyễn Tây sơn (1788 – 1802)

Dưới triều Nguyễn Tây sơn, chữ nôm được trọng dụng, vua Quang Trung khuyến khích dùng chữ nôm và chính nhà vua đã dùng chữ nôm trong các chiếu, biểu, sắc, dụ và văn thư trong triều đình. Trong các khoa thi, chữ Hán vẫn đuoc dùng, nhưng đến đệ tam truòng, các sĩ tử phải làm thơ phú bằng quốc âm.

Như các địa phương khác, trường học ở Phú yên đuợc thành lập từ thôn xã trở lên huyện, phủ. Đền chùa đuợc dùng làm nơi giảng dạy. Triều đình bổ nhậm viên Huấn đạo đến dạy và trông coi, khuếch trương giáo dục tại phủ. Dưới quyền Huấn đạo là các nho sĩ lựa chọn trong số người có học, có hạnh tại địa phương để giảng dạy tại các thôn xã.

Khoa thi:

Mỗi ba năm, mở khoa thi tại Kinh đô. Khoa thi đầu tiên năm Quang Trung thứ 2 (1789). Khoa thi văn gọi là khoa thi Minh Kinh. Trúng tuyển ưu hạng khoa thi này có Ông Phan văn Biên, người Phú yên, giỏi kinh sử, thông bách gia chư tử, thạo âm nhạc, rành toán pháp. Ông được bổ nhậïm làm Huấn đạo.

Giáo Dục Duớí Thời Nhà Nguyễn

Giáo dục dưới thời nhà Nguyễn có thể chia làm hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất từ vua Gia Long (1802) đến cuối đời vua Tự Đức (1883) và giai đoạn thứ nhì dưới thời thuộc Pháp.

1) Giai đoạn thứ nhất (1802 – 1883):

- Dưới thời vua Gia Long

Sau khi thống nhất sơn hà, năm thứ 2, 1803, vua Gia Long chuẩn định điều lệ giáo dục:

- Về giáo viên, mỗi xã chọn 1 người có đức hạnh, văn học, được miễn tạp dịch, để dạy bảo con em trong làng. Mỗi xã có 1 trường Tiểu học.

- Về học sinh, lớp Tiểu học:

- Từ 8 tuổi trở lên học sách Hiếu kinh và Trung kinh.

- Từ 12 tuổi trở lên, trước học Luận ngữ, Mạnh tử, thứ đến học Trung dung.

- Từ 15 tuổi trở lên, trước học Kinh thi, Kinh thư, thứ đến, Kinh dịch, Kinh Xuân thu, sách Chu tử cùng sách sử.

Gia long thứ 4, 1805, bổ nhiệm 1 Đốc học cho ba trấn Quảng nghĩa, Bình định và Phú yên.

Gia long 11, 1812, dinh trấn đề cử người văn học trên 50 tuổi, mỗi tổng 2 hoặc 3 ngưởi do Trấn cấp ủy nhiệm cho miễn việc binh, miễn sưu, để dạy học trò mới học.

Mãi đến Minh Mạng thứ 3, 1822, Tỉnh Phú yên mới có 1 Đốc học, giảm bơtù viên trợ giáo, tại thành Trấn thủ có 1 viên chánh thất phẩm Giáo thụ và mỗi huyện có 1 viên chánh bát phẩm Huấn đạo để chuyên lo việc giáo dục trong quản hạt. Năm Minh Mạng thứ 13, 1832, Trấn Phú yên ít học trò, viên Giáo thụ phải lo việc giảng tập ở học đường và khảo tập khóa hạch.

Thiệu Trị thứ 6, 1846, một Huấn đạo được đặt tại huyện Tuy hòa và ban cấp sách vở cho các kẻ sĩ trong Tỉnh. Năm 1847, sĩ số Phú yên tăng lên gấp đôi, nên Triềâu đình đặt 1 Đốc học.

Tự Đức thứ 1, 1848, tái lập trường Đốc học Tỉnh Phú yên. Thời gian trước, Phú yên có Đốc học, sau đổi lại đăït chức Giáo thọ, trong năm ấy quan Tỉnh xin tái lập chức Đốc học và tái thiết nhà trường. Tự Đức thứ 2, 1849, giảm 1 Giáo thụ phủ Tuy an.

Chuơng trình giảng tập

Cách thức giảng tập gồm bốn trường: trường thứ nhất dùng kinh nghĩa, truòng thứ hai dùng chiếu, chế, biểu, trường thứ ba dùng thơ phú và trường thứ tư dùng sách vấn. Học đường sở tại của các quan tế tửu, tư nghiệp, đốc học, giáo thụ, huấn đạo, chia ngày lẻ, ngày chẵn để giảng dạy. Đầu tiên giảng kinh truyện, sau giảng chính sử. Lệ thường, ngày mồng 3 ,9, 17, 25 ra đầu bài. Các quan đốc phủ, bố, án, mỗi tháng mộït lần ra bài xét sĩ tử trong hạt.

Thưởng phạt

Ai văn học giỏi được xét thưởng bút, giấy, mực. Ai lười học tập, hạnh kiểm xấu, bị đánh roi.

Sách giáo khoa:

Học chính Tỉnh , học đường giáo huấn ở phủ, huyện được triều đình cung cấp sách giáo khoa gồm ngũ kinh, tứ thư đại toàn, thi vận tập yếu, thơ vua sáng tác, thơ Bác tuần, Khâm định tập vận trích yếu.

Khoa cử

Tiến trình khoa cử gồm Khảo khóa, Tỉnh hạch, thi Hương, thi Hội và Đình thí.

Điều lêï khảo khóa:

Khảo khóa là khoa thi mở hàng năm tại tỉnh do quan Đốc học tổ chức dưới quyền chủ tọa của vị quan đầu tỉnh. Khảo khóa mở ra nhằm mục đích khuyến khích học sinh học tập, đồng thời cho họ làm quen với lối văn trường thi trong kỳ thi Hương. Ban Giám khảo gồm quan Đốc học ở tỉnh, các quan Giáo thọ ở phủ, quan Huấn đạo ở huyện. Đề thi do các học quan ở tỉnh ra.

Hàng năm vào mùa hạ ngày 15 tháng tư và mùa đông ngày 15 tháng mười là kỳ khảo hạch . Sỉ tử được khảo hạch, người thông văn thể được miễn trừ việc lính và phu dịch trong một hoặc nửa năm, cho tiện việc theo đuổi học tập. Liên tục 8 khóa trong 4 năm, sĩ tử đậu qua văn thể trong 4 trường, được phép miễn tiếp.

Người trúng tuyển khảo khóa, được quan Đốc học cấp văn bằng. Danh sách và quyển khảo nộp về kinh.

Tỉnh hạch

Ba năm một lần, có một kỳ Tỉnh hạch truớc kỳ thi Hương độ vài ba tháng. Chỉ những khóa sinh mới được dự thi. Trúng cách gọi là thí sinh và sau đó mới được thi Hương.

Thi Hương

Thi Hương để lấy đỗ Cử nhân hoặc Tú tài. Đời Gia long chỉ có Hương thí. Tuy nhiên, đối với Phú yên, đến Gia long thứ 12, 1813, tức khoa Quí dậu mới lập thêm trường Quảng đức (tức trường Thừa thiên sau này) cho thí sinh từ Quảng trị đến Phú yên, Khánh hòa và Gia định thành. Mãi đến Minh mạng thứ 3, 1822, mới có Hội thí và Đình thí. Hương thí vào các năm tí, ngọ, mẹo, dậu. Hội thí và Đình thí vào các năm thìn, tuất , sửu, mùi.

Thi gồm bốn kỳ: kỳ đệ nhất trường thi kinh nghĩa 5 đề, truyện 1 đề, sĩ tử có thể chọn 1 hay nhiều đề kinh nghĩa; kỳ đệ nhị trường thi chiếu, biểu, chế, mỗi thứ một đề; kỳ đệ tam trường thi thơ theo thể Đường luật thất ngôn một đề, phú một đềù, và kỳ đệ tứ trường thi văn sách một đề. Thi xong một kỳ, thí sinh nghỉ khoảng một tuần chờ kết quả, ai trúng tuyển vào kỳ kế tiếp. Thường một khoa thi có thể kéo dài đến hơn một tháng. Đời Gia long, người đỗ nhất trường được miễn lính phu trong 1năm, đỗ nhị trường được miễn 3 năm. Đỗ tam trường gọi là Sinh đồ, đỗ tứ trươnøg gọi là Hương cống, sau đổi Sinh đồ là Tú tài, Hương cống là Cử nhân. Người đỗ đầu tứ trường là Giải nguyên.

Sau khi đậu Cử nhân, tân khoa trở về quê, hoặc được giới thiệu vào học trường Quốc tử giám, hoặc về học tại trường Đốc mộtä thời gian từ 1 đến 2 năm để chuẩn bị cho kỳ thi Hội tại kinh đô. Có người ra làm quan rồi chờ dịp Triều đình mở ân khoa sẽ thi Hội. Thi Hội tại kinh đô Huế.

Thi Hội

Thi Hội và thi Đình là các kỳ thi tuyển chọn tài năng cao nhất trong nước, được gọi là Đại tỉ hay Đại khoa.

Thi Hội là kỳ thi quốc gia dành cho những người thi đậu 4 kỳ thi Hương hay những người tốt nghiệp Quốc tử giám, thường tổ chức vào trọng xuân. Trường thi là trường Kinh Bắc tại nội thành, có tường gạch bao quanh, thí sinh ngồi trong phòng, có bàn sẵn để viết mà không phải mang lều chõng như thi Hương. Thi Hội cũng gồm 4 kỳ như thi Hương, nhưng vói trình độ cao hơn, bài làm qui định dài hơn. Điểm chấm cũng được qui định chặt chẽ hơn.

Kỳ nhất thi Hội có 7 đề Kinh nghĩa, tứ thư, ngũ kinh. Người xuất sắc có thể hoàn tất 7 bài, thí sinh thường thì chọn 2 trong 7 bài là đủ để được chấm, phải đậu kỳ trước mới được vào kỳ kế tiếp. Thơ thì thi Hội dùng thể Đường luật ngũ ngôn; phú thì 8 vần theo thể đời Minh, Thanh. Người trúng cách trong bốn kỳ sẽ được dự thi Điện.

Quyển của các Cống sĩ (thí sinh dự thi Hội) phải đệ trình vua ngự lãm. Bởi vậy, thi bốn kỳ, Cống sĩ phải nộp tám quyển, bằng giấy lệnh, kẽ ô son, mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng 22 chữ. Sáu quyển của ba kỳ đầu, mỗi quyển 10 tờ. Hai quyển kỳ thứ tư phải đóng đủ 30 tờ. Cống sĩ làm bài bằng mực đen.

Quan trường

Quan trường gồm hai hạng: ban chấm quyển và ban giám sát.

Ban chấm quyển: chấm bài thi đã được rọc phách theo trình tự gồm quan Sơ khảo, Phúc khảo, Giám khảo, và Chánh, Phó chủ khảo là người chấm bài sau cùng để quyết định đậu hay hỏng.

Ban giám sát

Ban giám sát có nhiệm vụ trông nom việc thi cử. Quan Chánh, Phó Đề điệu coi sóc, phân quyển, rọc phách, ráp phách. Giám sát Ngự sử và Chưởng án thay mặt vua, đại diện triều đình, nhận xét cuộc thi và phúc trình lên nhà vua. Dưới quyền Ngự sử có tám viên Thể sát chuyên trách canh phòng trường thi và coi việc gian lận của quan trường và thí sinh.

Phú yên dưới triều Nguyễn không có người nào vào Điện thí, do đó ở đây không thảo luận về kỳ Điện thí ( thi trong sân nhà vua).

Khoa Bảng

Từ khoa Đinh mão, Gia long thứ 6 (1807) đến khoa Nhâm ngọ, Tự đức thứ 35 (1882) có 32 khoa thi Hương, Phú yên có 12 người đậu Cử nhân:

1. Lê đức Ngạn, người xã Cự Lộ, huyện Đồng xuân, đậu Cử nhân tại trường Gia định, khoa Tân tỵ, năm Minh mạng thứ 2 (1821). Khoa thi lấùy đậu 12 người.

2. Nguyễn văn Thạnh, người xã Định an, huyện Đồng xuân, đậu Cử nhân tại trường Thừa thiên, khoa Tân mão, năm Minh mạng thứ 12 (1831). Khoa thi lấy đậu 12 người.

3. Nguyễn duy Hiển, người xã Ngân sơn, huyện Đồng xuân, đậu Cử nhân khoa Giáp ngọ tại trường Thừa thiênï, năm Minh mạng thứ 15 (1834). Khoa thi lấy đậu 31 cư ûnhân.

4. Đào văn Tú, người xã Phú lộc, huyện Tuy hòa, đậu Cử nhân tại trường Thừa thiên. Khoa thi Tân sửu, năm Thiệu trị thứ nhất (1841). Khoa thi lấy đậu 40 người.

5. Phạm Mẫn, người xã Tân thạnh, huyện Đồng xuân, đậu Cử nhân tại trường Thừa thiên, khoa Đinh mùi, năm Thiệu trị thứ 7 (1847). Khoa thi lấy đâäu 46 người.

6. Nguyễn hữu Thành, người xã Thành đức, huyện Tuy an, đậu Cử nhân tại trường Gia định, khoa Kỷ dậu, năm Tự đức thứ 2 (1849). Khoa thi lấy đậu 17 cử nhân.

7. Mai thế Tuyển, người xã Yên thành, huyện Đồng xuân, đâïu Cử nhân tại trường Thừa thiên, khoa Canh tuất, năm Tự đức thứ 3 (1850). Khoa thi lấy đậu 48 cử nhân.

8. Đoàn văn Diệu, người xã Cửu an, huyện Đôàng xuân, đậu Cử nhân tại trường Bình định, khoa Aát mão, năm Tự đức thứ 8 (1855). Khoa thi lấy đậu 13 người.

9. Lê quan Quang, người xã Thạch khê, huyện Đồng xuân, đậu Cử nhân tại trường Bình định, khoa Aát mão, năm Tự đức thứ 8 (1855). Khoa thi lấy đâïu 13 người.

10. Nguyễn đăng Dinh, người xã Phương đài, huyện Đồng xuân, đậu Cử nhân tại trường Bình định, khoa Canh ngọ, năm Tự đức thứ 23 (1870). Khoa thi lấy đậu 16 người.

11. Trần khải Địch, người xã Diêm trường, huyện Đồng xuân, đâïu Cử nhân tại trường Bình định, khoa Quý dậu, năm Tự đức thứ 26 (1873). Khoa thi lấy đậu 15 người.

12. Trần kỳ Phong, người xã Xuân đài, huyện Đồng xuân, đậu Cử nhân khoa Bính tý tại trường Bình định, năm Tự đức thứ 29 (1876). Khoa thi lấy đậu 12 người.

2) Giai đoạn thứ nhì – Giáo dục nhà Nguyễn dưới thời Pháp thuộc (từ Hòa ước Quí mùi 1883 đến 1945):

Sau Hòa ước Quí mùi nhận sự bảo hộ của Pháp, triều đình Nguyễn trong cơn biến cố phế lập , nhưngõ cuộc khởi nghĩa Cần vương liên tục và dân chúng nổi dậy chống Pháp, giáo dục, Phú yên cũng như toàn quốc vùi trong cơn biến loạn. Từ vua Dục đức (1883), Hiệp hòa, Kiến phúc, Hàm nghi, đến Đồng khánh (1888), chỉ có 5 khoa thi Hương. Học chánh không có gì tiến triển thay đổi. Trong thời gian này, Phú yên có 2 người đậu cử nhân:

1) Nguyễn Phong, người xã Mỹ phú, huyện Đồng xuân, đậu cử nhân tại trường Bình định, Aân khoa Giáp thân, năm Kiến phúc thứ 1 (1884). Khoa này lấy đậu 18 cử nhân.

2) Đăïng Châu, người xã Củng sơn, huyện Sơn hòa, đậu Cử nhân tại trường Bình định, khoa Aát dậu, năm Hàm nghi thứ 1 (1885). Khoa này là Hương thí chính khoa trong toàn quốc, vì chiến sự, chỉ có duy nhất trường Bình định, ïlấy đậu 8 cử nhân.

Khởi từ đạo Dụ ngày 31 tháng 5 năm 1906, năm 1907 chính phủ bảo hộ Pháp và triều đình Huế qui định giáo dục mới. Tuy nhiên, chương trình học và khoa cử vẫn còn duy trì đến 1919 (ở Bắc kỳ 1915).

Năm Thành thái thứ 11 (1899), triều đình Huế cho mở 4 trường công lập Hán học ở Phú Yên:

1) Trường Tỉnh học ở An thổ, sau dời ra Sông cầu, có Đốc học.

2) Trường Phủ học Tuy an, có chức Giáo thụ.

3) Trường Huyện học Đồng xuân, có chức Huấn đạo.

4) Trường Huyện học Sơn hòa, có Huấn đạo.

Ngoài ra, mỗi làng có trường tư, trường Aáu học, do thầy đồ dạy tại tư gia, từ vỡ lòng cho đến khi nghe sách được thì vào trường Huấn, Giáo, Đốc. Trường Đốc dạy cho đến trình độ dự thi Hương tại Bình định hoặc Thừa thiên. Thầy đồ thường từ Nghệ, Tịnh, Quảng nam. Nhà giàu cho con học tại Bình định, Quảng nam, Thừa thiên. Chẳng hạn, cụ Tú Huỳnh thượng Trung, Huỳnh huệ Địch học với cụ Trần quí Cáp tại Quảng nam, cụ cử Trương trọng Cừu thọ giáo Tiến sĩ Hồ sĩ Tạo , Bình định.

Năm 1918, Khoa Mậu ngọ, Khải định thứ 3, là khoa thi Hương cuối cùng của triều Nguyêãn. Trường Thừa thiên láy đậu 22 người, Trường Bình định 12 người: trường Thanh hóa và trươnøg Nghệ an thi chung tại Nghệ an: trường Thanh hóa lấy 10 người, trường Nghệ an lấy 15 người.

Khoa bảng:

Trong thời kỳ Pháp thuộc từ vua Kiến Phúc đến khoa thi Hương cuối cùng năm 1918, đời Khải định, Phú yên có 18 người đậu Cử nhân.

1) Nguyễn Phong, người xã Mỹ phú, phủ Tuy an, đậu Cử nhân tại trường Bình định, Aân khoa Giáp thân, Kiến Phúc thứ nhất (1884). Khoa này lấy đậu 18 người.

2) Đặng Châu, người xã Củng sơn, huyện Sơn hòa, đậu Cử nhân tại trường Bình định, An khoa Aát dậu là Hương thí chính khoa, năm Hàm nghi thứ 1 (1885). Khoa này lấy đậu 8 người.

3) Nguyễn Đức, người xã Bình thạnh, huyện Đồng xuân, thi đậu Cử nhân tại trường Bình định, khoa Tân mão, năm Thành thái thứ 3 (1891). Khoa này lấy đậu 16 người.

4) Nguyễn bá Côn, người huyện Đồng xuân, đậu Cử nhân tại trường Bình định, khoa Giáp ngọ, năm Thành thái thứ 6 (1894). Khoa này lấy đậu 19 người.

5) Võ phụng Cang, người xã Diêm điền, huyện Tuy an, đậu Cử nhân tại trường Bình định. Khoa Đinh dậu, năm Thành thái thứ 9 (1897). Khoa này lấy đậu 18 người.

6) Võ đôn Luân, người xã Khoan hậu, huyện Đồng xuân, đậu Cử nhân tại trường Bình định, khoa Đinh dậu, năm Thành thái thứ 9 (1897). Khoa nầy lấùy đậu 18 người.

7) Lê Mai, người xã Triều sơn, huyện Đồng xuân, đậu Cử nhân tại trường Bình định, khoa Canh tý, năm Thành thái thứ 12 (1900). Khoa này lấy đậu 24 người.

8) Lê huỳnh Lưu, người xã Long uyên, huyện Tuy an, đậu Cử nhân tại trường Bình định, khoa Quý mão, năm Thành thái thứ 15 (1903). Khoa này lấy đậu 18 người.

9) Phạm Đàm, người xã Năng tịnh, huyện Tuy hòa, thi đậu Cử nhân khoa Bính ngọ, năm Thành thái thứ 18 (1906). Khoa này lấy đậu 24 người.

10) Đặng Lang, người xã Củng sơn, huyện Sơn hòa, thi đậu Cử nhân khoa Bính ngọ, năm Thành thái thứ 18 (1906). Khoa này lấy đậu 24 người.

11) Lê phụng Cảnh, người xã Khoan hậu, huyện Đồng xuân, thi đậu Cử nhân khoa Bính ngọ, năm Thành thái thứ 18 (1906). Khoa này lấy đậu 24 người.

12) Trương trọng Cầu, người xã Vĩnh xuân, huyện Tuy hòa, thi đậu Cử nhân tại trường Bình định, khoa Kỷ dậu, năm Duy tân thứ 3 (1909). Khoa nầy lấy đậu 16 người.

13) Trần khắc Đôn, người xã Hảo minh, huyện Đồng xuân, thi đậu Cử nhân tại trường Bình định khoa Nhâm tý, năm Duy tân thứ 6 (1912). Khoa này lấy đậu 18 người.

14) Đặng trác Văn, người xã Ngân sơn, huyện Tuy an, thi dậu Cử nhân tại trường Bình định khoa Aát mão, năm Duy tân thứ 9 (1915). Khoa này lấy đậu 18 người.

15) Nguyễn viết Duy, người xã Mỹ phú, huyện Tuy an, thi dậu Cử nhân tại trường Bình định khoa Aát mão, năm Duy tân thứ 9 (1915). Khoa này lấy đậu 18 người.

16) Bùi Cạnh, người xã Long Uyên, huyện Tuy an, thi dậu Cử nhân tại trường Bình định khoa Aát mão, năm Duy tân thứ 9 (1915). Khoa này lấy đậu 18 người.

17) Trần đình Hiển, người xã Qui hậu, huyện Tuy hòa, thi đậu Cử nhân khoa Mậu ngọ, năm Khải định thứ 3 (1918). Khoa này lấy đậu 12 người.

18) Lê hoàng Hà, người xã Long Uyên, huyện Tuy an, thi đậu Cử nhân năm 19 tuổi tại trường Bình định, khoa Mâïu ngọ, năm Khải định thứ 3 (1918). Khoa này lấy đậu 12 người.

Ngày 21 tháng 12 năm 1917, Toàn quyền Albert Sarraut ra Nghị định ban hành Học chính Tổng qui ở Đông duong (Reglement Général de l”Instruction Publique en Indochine). Vì tại Phú yên cho đến 1945 chỉ có trường Tiểu học, do đó chỉ thảo luận hạn chế trong bậc học này mà thôi. Chương trình Tiểu học Pháp Việt có các cấp và lớp như sau:

1) Trưòng Sơ đẳng Tiểu học: Trường thiết lập ở điạ phương gọi là Hương trường hay Sơ học (Ecole Primaire Elémentaire). Chương trình dạy gồm Pháp ngữ và Quốc ngữ, tại Phú yên, một cách tổng quát, mỗi Tổng một trường có ba lớp, từ thấp lên cao:

· Lớp Đồng ấu hay Lớp Năm (Cours Enfantin,) 7 tuổi,

· Lớp Dự bị hay Lớp Tư (Cours Préparatoire), 8 tuổi,

· Lớp Sơ đẳng hay Lớp Ba (Cours Elémentaire), 9 tuổi.

Cuối năm lớp Ba, học sinh phải qua kỳ thi lấy bằng Sơ học Yếu lược, gọi tắt là Bằng Yếu lược (Primaire Elémentaire).

2) Tiểu học toàn cấp (Ecole Primaire de plein exercice): Học sinh đỗ Bằng Yếu lược được nhập học, việc giảng dạy từ lớp Nhì đến lớp Nhất hoàn toàn bằng tiếng Pháp, theo trình tự sau:

· Lớp Nhì năm thứ Nhất (Cours Moyen première année), 10 tuổi,

· Lớp Nhì năm thứ Hai (Cours Moyen deuxième année)[7], 11 tuổi,

· Lớp Nhất (Cours Supérieur), 12 tuổi.

Cuối năm học lớp Nhất, học sinh thi Bằng Tiểu học Yếu lược hay Sơ đẳng Tiểu học, gọi tắt là Sơ học Pháp Việt (Certificate d’Etudes Primaire Franco-Indigène, viết tắt là CEPFI, miền Bắc gọi là Bằng Cơ thủy).

Chương trình Tiểu học Pháp Việt 6 năm nói trên được áp dụng từ 1927 theo sự sửa đổi chương trình tiểu học của Nha Học chánh Đông dương thời ấy. Trước thời gian này, theo Học chánh Tổng qui do Toàn quyền Albert Sarraut ký ngày 21-12-1917, chỉ có 5 lớp chia làm 2 cấp: Sơ đẳng Tiểu học gồm 3 năm đầu thi lấy bằng Sơ học Yếu lược và Tiểu học gồm 2 năm thi lấy bằng Tiểu học Yếu lược (Primaire) và số tuổi qui định như trên.

Cũng kể từ 21-12-1917, tất cả các trường dạy chữ Nho cả công lẫn tư đều xếp vào loại trường tư và phải tuân thủ mọi qui chế của chánh quyền Pháp ban hành.

Sau khi bãi bỏ Hán học (1918), cho đến năm 1945, tỉnh Phú yên có: 5 trường Tiểu học có đủ 5 lớp: Đồng ấu, Dự bị, Sơ đẳng, lớp Nhì nhất niên, lớp Nhì nhị niên và lớp Nhất, 30 trường Sơ học có 3 lớp :Đồng ấu (lớp 5), Dự bị (lớp 4) và Sơ đăúng (lớp 3). Ngoài ra còn có một số trường 2 lớp: Đồng ấu và Dự bị, chưa có trường Trung học[8]. Trường Tiểu học nói trên được thiết lập theo trình tự sau:

· Trường Tỉnh lỵ Sông cầu mở vào năm 1920, đến năm 1923 mới có lớp nhì và lớp nhất. Trường lần lượt do các ông Tôn thất Dương Thanh, Trần Sĩ, Trần xuân Hoàn làm Hiệu trưởng.

· Trường Tiểu học phủ Tuy hòa tại thị xã Tuy hòa, thành lập vào năm 1920, đến năm 1923 mới có lơpù Nhì. Niên khóa 1929 – 1930 mới có lớp Nhâùt. Trường lầøn lượt do các ông Tôn thất Dương Thanh, Hoàng Minh Vui và Trần Sĩ làm Hiệu trưởng.

· Trường Tiểu học phủ Tuy an tại Ngân sơn, xã An thạch, mở năm 1920. Đến năm 1932 mới có lớp Nhì. Trường lần lượt do các ông Lâm Diệu Anh, Ngô Hưởng làm Hiệu trưởng.

· Trường Tiểu học huyện Đồng xuân tại La hai mở năm 1932.

· Trường Tiểu học Bàn thạch (nay thuộc xã Hòa xuân) mở năm 1940 do ông Phan văn Thiện làm Hiệu trưởng.

Trong thời gian nói trên, tại Phú yên, số người đậu bằng Tiểu học, Thành chung và Tú tài được biết là:

1) Bằng Tiểu học:

· Năm 1920, ông Lê hoàng Hà là người đậu bằng Tiểu học đầu tiên tại Huế.

· Năm 1921, ông Quách đình Liên đậu tại Huế và được hưởng lễ vinh quy.

· Năm 1922, Phan ngọc Thành, Huỳnh tấn Dụng, Trần Bính, Đặng Tín, Trương tấn Tiếp,

· Năm 1923, Võ thị Trang, Đoàn Thuật, Cao văn Minh.

· Năm 1924, Phan tấn Khích, Ngô phụng Hàm, nguyễn Như, Nguyễn Đệ.

· Năm 1925, Huỳnh Aûnh, Lê nguyên Thẩm, Huỳnh thượng Thạch, Phan Thanh, Huỳnh Nhâm, Trần Sĩ.

· Năm 1926, Lê kỉnh Hứa, Nguyễn Khiêm, Huỳnh Khinh, Đặng Nhơn, Phan thanh Cưu, Lê Cú, . . .

2) Bằng Thành Chung (Trung học Đệ nhất cấp, Diplome d’Etudes Complémentaire):

- Năm 1929, ông Trần Sĩ[9] là người đậu bằng Thành Chung đầu tiên.

- Năm 1930, ông Huỳnh thượng Thạch, …

- Năm 1942, ông Đào Sìa.

Bằng Tú Tài (Baccalaureat):

- Năm 1939, ông Nguyễn Tích, Trần kỳ Doanh, Trần ngũ Phương là những người đậu Tú tài đầu tiên .

- Năm 1943, ông Trần Suyền, …

Giáo Dục dưới chế độ Việt minh – Cộng sản (1945 - 1954)

Sau tháng 8/1945, Phú yên đăït dưới chế độ Việt minh – Cộng sản, về giáo dục do Ty Tiểu học và Bình đân học vụ đảm trách. Năm 1946, bình dân học vụ tách riêng Ty Tiểu hoc vụ và thành lập Ty Bình dân học vu, ông Võ Hồng làm Trưởng ty. Cuốí năm 1952ï, ty Bình dân học vụ sát nhập vào Ty Tiểu học và thành lập Ty Giáo dục , ông Trần Sĩ làm Trưởng ty. Từø niên khóa 1945 - 1946, trường học trong tỉnh gồm có:

1) Trường Tiểu học:

Mỗi xã có 1 trường và một số hương trường. Khởi điểm, truờng tiểu hoc chỉ có 3 hoặc 4 lớp, dần dần sau đó mới có lớp Nhì và lớp Nhất. Thiếu giáo viên, có nơi, Hiệu trưởng kiêm dạy cả 2 hoặc 3 lớp. Trường đủ 5 lớp, từ lớp Năm đến lớp Nhất được gọi là trường tiểu học hoàn chỉnh. Một vài xã có 2 trường Tiểu học hoàn chỉnh như liên trường Hòa bình có trường Tiểu học Phú thứ và Phước mỹ.

Mãn lớp 5, học sinh thi bằng Tiểu học cụ thể. Học sinh Tuy hòa thi tại liên trường Hòa quang; Tuy an thi tại Hòa định (trường trung học Lương văn Chanùh). Tháng 6/1949 là kỳ thi Tiểu học sau cùng. Sau cải cách giáo dục, bậc Tiểu học gọi là cấp 1 gồm 4 lớp từ lớp 1 đến lớp 4. Mãn cấp 1, học sinh phải qua một kỳ thi tuyển vào lớp 5.

3) Bình dân học vụ:

Lớp bình dân học vụ thuờng tổ chức tại đình, chùa, lẫm làng, nhà tư nhân, … cho người lớn tuổi. Giờ học sau công viêc đồng áng, thường là vào buổi trưa hoặc ban đêm. Giáo viên phần lớn là giáo viên Tiểu học kiêm nhiệm hoặc là người có học trong thôn xóm, dạïy không lương bổng. Năm 1948 có lớp Tiểu học Bình dân với chương trình 2 năm, tại các huyện Tuy hòa, Tuy an, và Đồng xuân, mỗi huyện một lớp. Mãn Tiểu học Bình dân có thể theo học trường Trung học Bình dân với chương trình Trung học 2 năm. Tại Liên khu V (Quảng nam, Quảng ngãi, Bình định và Phú yên) chỉ có một trường Trung học Bình dân tại sông Vệ, tỉnh Quảng ngãi. Phần lớn học sinh của các trường Tiểu học và Trung học Bình dân là cán bộ trong Chính quyền đương thời, phần khác là cán bộ đảng ủy Cộng sản.

4) Trường Trung học:

Trường Lương văn Chánh

1946: Trường Trung học Lương văn Chánh được thành lập và khai giảng vào ngày 15/10/46 tại trường Tiểu học Thị xã Tuy hòa, ông Trần Sĩ làm Hiệu trưởng kiêm Tổng giám thị (năm 1952 ông Võ Hồng làm Hiệu trưởng), gồm 3 lớp Đê nhất niên với 120 học sinh.

16/1/1947, quân đội Pháp đánh vỡ mặt trận Đèo cả, tấn công Phú yên và trú đóng ở núi Hiềm, thuộc xã Hòa xuân, huyện Tuy hòa. Sau tết Đinh hợi, 22/1/1947 , trường dời về Hóc lá, thôn Định phong, xã An nghiệp, huyện Tuy an, chỉ còn 1 lớp Đệ nhất niên với 32 học sinh, 3 thầy giáo: Trần Sĩ, Huỳnh Diệu, Bửu Thọ và 3 thính giảng Đinh nho Bát, Đặng ngọc Cư, Võ văn Sung.

Niên khóa 1947 – 1948, trường dời về An thổ, xã An dân, huyện Tuy an gồm 3 lớp Đệ nhất niên và 1 lớp Đệ nhị niên. Ngày 30/6/1948, Pháp dổ bộ An thổ, đốt phá trường sở. Thầy giáo và học sinh di tản.

Niên khóa 1948 – 1949, trường dời về Đồng me, xã An định, huyện Tuy an, gồm 7 lớp: 4 lớp Đệ nhất niên, lớp Đệ nhị và 1 Đệ tam[10].

Đến niên khóa 1949 – 1950 mới có 1 lớp Đệ tứ niên[11]. Cuối niên khóa này, học sinh tham dự kỳ thi lấy bằng Thành chung (Trung học Đệ nhất cấp).

Niên khóa 1950 – 1951: Từ niên khóa này, có 3 trường Phổ thông cấp 2: 2 trường tại huyện Tuy hòa và 1 tại huyện Đồng xuân.

Trường Phổ thông cấp 2 Tuy hòa mở tại Lò tre, thôn Định thành, xã Hòa định, huyện Tuy hòa gồm 9 lớp: 6 lớp Năm, 3 lớp Sáu. Ôâng Huỳnh Diệu[12] làm Hiệu trưởng.

Trường Phổ thông cấp 2 Đồng xuân[13] mở tại Gò Duối, xã Xuân lộc, có 3 lớp: 2 lớp Năm và 1 lớp Sáu.

Niên khóa 1952[14]: Trường Phổ thông cấp 2 huyện Tuy hòa mở tại thôn Cảnh phước, xã Hòa tân, huyện Tuy hòa. Ông Trần thiện Căn làm Hiệu trưởng. Trường có 8 lớp: 6 lớp Năm và 2 lớp Sáu. Đầu năm 1952, trường dời về thôn Phước Bình, Xã Hòa Thành, huyện Tuy hòa. Ông Nguyễn chi Thống làm Hiệu trưởng.

Chương trình tại các trường trung học đương thời là Chương trình Hoàng xuân Hãn được sửa đổi một phần nhỏ. Chương trình Hoàng xuân Hãn là chương trình Trung học Việt nam đầu tiên được soạn thảo trong một thời gian kỷ lục dưới thời Bộ trưởng Giáo dục kiêm Mỹ thuật Hoàng xuân Hãn thuộc Chánh phủ Trần trọng Kim và được ban hành bởi Dụ số 67 ngày 3-6-1945 của đương kim Hoàng đế Bảo đại. Hội đồng soạn thảo chương trình này gồm các giáo sư và học gỉả đang dạy học và làm việc đương thời tại Huế gồm Giáo sư Phạm đình Ái (Lý, Hóa), Nguyễn thúc Hào (Toán), Nguyễn dương Đôn (Toán), Nguyễn huy Bảo, LM Nguyễn văn Hiền (Triết), Tạ quang Bửu (Vật lý), Ưng Quả (Pháp văn), Hà thúc Chính (Anh văn), Ngô đình Nhu (Sử, Địa), Hoài Thanh, Đào duy Anh (Việt văn), Lê văn Căn, Nguyễn hữu Quán (Vạn vật), dưới sự điều khiển trực tiếp của Bộ trưởng Hoàng xuân Hãn.

Đến niên khóa 1950 - 1951 chương trình Hoàng xuân Hãn được thay đổi bằng một chương trình mới gọi là Chương trình Phổ thông 9 năm thay thế chương trình cũ 12 năm. Với chương trình nầy, các cấp học được phân phối như sau:

· Bậc Tiểu học: còn lại 4 năm

· Bậc Trung học còn lại 5 năm, chia làm 2 cấp:

- Phổ thông gồm lớp Năm, lớp Sáu và lớp Bảy.

- Chuyên khoa gồm lớp Tám và lớp Chín.

Trường tư thục:

Trong giai đoạn này có một số trường tiểu học như tư thục Trương vĩnh Ký ở Mằng lăng, xã An thacïh, huyện Tuy an; tư thục Nguyễn an Ninh ở xã An ninh, huyện Tuy an do ông Nguyêãn thúc Cưu làm Hiệu trưởng; tư thục khác ở xã Hòa bình do ông Nguyễn Bình làm Hiệu trưởng.

Dưới thời Quốc gia (10/1954 – 10/1956) và Việt nam Cộng Hòa (11/1956– 4/1975):

Sau Hiệp định Genève, Chính quyền Quốc gia dưới thời Quốc trưởng Bảo đại tiếp thu tỉnh Phú yên, bắt đầu từ ngày 5-9-1954, lần luợt thành lập cơ chế từ Tỉnh đến Quậïn, Xã và thôn ấp. Về giáo dục, Phú yên dưới chính quyền Quốc gia từ 1954 - 1955 như là một chuyển tiếp cho sự phát triển vể giáo dục Phú yên trong suốt thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa (1955 –1975).Ty Tiểu học vụ Tỉnh phụ trách giáo dục Tiểu học trong Tỉnh. Từ 1954 đến 1973, các ông Thái văn Cư, Lê trọng Phiếm và Phan Tăng lần lượt giữ chức vụ Trưởng ty. Riêng về trường Trung học trực thuộc Nha Trung Tiểu học, Bộ Quốc gia Giáo dục. Hiệu trưởng Trung học công lập Nguyễn Huệ tại Tỉnh lỵ Tuy hòa đại diện Nha Trung Tiểu học kiểm tra các trường Trung học tư thục trong Tỉnh. Kể từ năm 1973, cải tổ giáo dục lần thứ nhì, mỗi tỉnh có Sở Giáo dục và Thanh niên điều hành ngành Trung học và Tiểu học trong tỉnh, Ty Tiểu học sát nhâïp vào Sở Giáo Dục và Thanh niên này. Ông Nguyễn thành Hương giữ chức vụ Chánh sự vụ Sở Giáo dục và Thanh niên từ ngày thành lập Sở cho đến tháng 4/1975.

Trường Sơ cấp và Tiểu học:

Như đã nói trên, sau khi các cơ chế chính quyền địa phương thiết lập, Ty Tiểu học điều hợp Ủy viên Giáo dục thuộc Hội đồng Hương chính xã, tổ chức các trường Sơ học công lập 3 lớp : lớp 5, lớp 4, và lớp 3 tại mỗi xã. Ngoài ra, Chính quyền cấp xã còn mở các hương trường theo nhu cầu của mỗi thôn trực thuộc, do Ngân sách xã địa phương đài thọ. Về sau, ít nhất, mỗi xã có 1 trường Tiểu học đủ 5 lớp, từ lớp Năm đến lớp Nhất, do Ngân sách Quốc gia, Tỉnh hoặc Viện trợ Mỹ đài tho, các hương trường không còn nữạ. Từ niên khóa 1956 –1957, toàn tỉnh có 46 trường Tiểu học công lập trong 46 xã; riêng tại Tỉnh lỵ Tuy hòa có trường Nam, trường Nữ Tiểu học và trường Tiểu học Quân Dân Chính ( trường Quân Dân Chính chỉ mở theo nhu cầu tạm thời trong 2 niên khóa, phần lớn để giải quyết nơi học hành cho con em binh sĩ di chuyển từ các nơi đến trú đóng tại Tuy hòa).

Sơ khởi, các giáo viên trường Sơ cấp do Ty Tiểu học tuyển dụng bởi Quyết định của Tòa Hành chánh Tỉnh để dạy các lớp 5, 4, và lớp 3. Từ niên khóa 1956 – 1957, một số giáo viên tốt nghiệp khóa Sư phạm Cấp tốc[15] trong 1 năm do Nha Học Chánh Trung Nguyên Trung phần bổ nhiệm đến dạy các lớp Nhì và lớp Nhất. Hàng năm, đến kỳ nghỉ hè, Ty Tiểu học tổ chức khóa Sư phạm ngắn hạn tại Tỉnh lỵ Tuy hòa cho các giáo viên Sơ học. Hàng tháng có khóa họp giáo viên toàn tỉnh để tổng kết, phổ biến đường lối phát triển giáo dục. Từ niên khóa 1968 – 1969, một số trường Tiểu học được bổ sung một số giáo viên ngạch Giáo học Bổ túc[16] tốt nghiệp khóa Sư phạm 2 năm hoặc giáo viên Tiểu học có văn bằng Tú Tài II chuyển ngạch Giáo học Bổ túc.

Trong thời gian chiến tranh át liệt, một số trường Tiểu học vùng hẻo lánh bị đóng cửa, thay vào đó, trường sở tại các xã có an ninh và nhất là tại các Quận lỵ và Tỉnh lỵ Tuy hòa tăng cường tối đa để đáp ứng nhu cầu dân số gia tăng ở những vùng an toàn.

Ngoài ra có 2 trường Tiểu học tư thục là Trường Tiểu hoc Tin lành Thiên ân tại thị xã Tuy hòa và trường Tiểu học Bình mỹ tại Phường tư, Thị xã Tuy hòa, do ông Trần đắc Khoa làm Hiệu trưởng. Đây là một trường Tiểu học đã chuyên dạy môït số lớn học sinh trúng tuyển vào lớp Đệ thất Trung học công lập.

Trước năm 1966, mãn lớp Nhất, thí sinh thi lấy văn bằng Tiểu học và từ niên khóa này trở đi, kỳ thi văn bằng Tiểu học được hủy bỏ.

Trường Trung học:

1) Trung học Công lập:

Trung Học Nguyễn Huệ

Cuối tháng 10/1954, trường Trung học Nguyễn Huệ được mở tại thôn Phú thứ, xã Hòa bình , quận Tuy hòa gồm 2 lớp: 1 Đệ thất và 1 Đệ lục do Oâng Trần văn Kỳ làm Hiệu trưởng. Niên khóa 1955 – 1956, trường dời về Thị xã Tuy hòa có thêm lớp Đệ ngũ, Đệ tứ. Chức vụ Hiệu trưởng lần lượt đảm nhiệm bởi các ông Đinh thành Bài, Vũ trí Phú, Nguyễn đăng Ngọc, Nguyễn đức Giang, Lê ngọc Giáng và Tôn thất Quế. Từ niên khóa 1960 – 1961, trường mở thêm các lớp Đệ nhị cấp (Đêï tam, Đêï nhị và Đệ nhất). Từ năm 1972, Trường Trung học Nguyễn Huệ trở thành Trường Trung Học Tổng Hợp Nguyễn Huệ. Đây là truong Trung học Tổng hợp duy nhất của Phú yên.

- Về sau, tại các Quận lỵ Tuy an, Sông cầu, Đồng xuân, Sơn hòa, đều có trường Trung học cấp 2.

- Từ năm 1968, một số trường Trung học Tỉnh hạt đươc thành lập như:

- Trung học Tỉnh hạt[17] cấp 3 Hiếu xương tại Phú lâm, quận lỵ quận Hiếu xương.

- Trung học Tỉnh hạt cấp 2 Hòa thắng, tại xã Hòa thắng, quận Tuy hòa.

- Trung học Tinh hạt cấp 2 Đông Mỹ, tại thôn Đông mỹ, quận Hiếu xương.

2) Trung học Tư thục:

Tư thục Phật giáo:

- Trung học tư thục cấp 3 Bồ Đề tại thị xã Tuy hòa là trường tư thục Phật giáo đầu tiên của Phú yên.

- Trung học tư thục cấp 2 Bồ Đề Hiếu xương tại Phú lâm, quận lỵ Hiếu xương và Trung học Núi Sầm xã Hòa trị, quận Tuy hòa.

Tư thục Công giáo:

- Trung học tư thục cấp 3 Đặng đức Tuấn là trường Trung học Công giáo đầu tiên và trường Nữ trung học Thánh Giu-se tại thị xã Tuy hòa. Đây là trường tư thục Công giáo Phú yên.

- Trung học tư thục cấp 2 Đông mỹ, thuộc xã Hòa vinh, quận Hiếu xương, có chi nhánh tại Phú lâm, quận lỵ Hiếu xương.

Tư thục tư nhân:

- 1960, trường trung học tư thục Văn minh do ông Nguyễn Hường thành lập tại thôn Phong niên, xã Hòa thắng, quận Tuy hòa. Năm 1965, trường dời về đường Lê thánh Tôn, thị xã Tuy hòa.

- 6/1962, trung học tư thục Cần Học thành lập tại thôn Phú thứ, xã Hòa bình, quận Tuy hòa, do ông Ngô càng Phương sáng lập và làm Giám đốc Tú tài Ngô thạch Ưng (Đỗ chu Thăng) làm Hiệu trưởng. Đến niên khóa 1964 – 1965, trường có 6 lớp: 3 Đệ thất, 2 Đệ lục và 1 Đệ ngũ. Thời gian sau, trường đóng cửa vì phần lớn học sinh tập trung về thị xã Tuy hòa.

- Trung học tư thục Tân Dân tại 223 Trần hưng Đạo, thị xã Tuy hòa do ông Nguyễn kim Lãng sáng lập, năm 1971?

- Trung học tư thục Minh Tân tại Thị xã Tuy hòa do một nhóm tư nhân sáng lập năm 1973, với danh nghĩa Hội Khổng học Phú yên.

3) Chương trình Giáo dục:

Chương trình Giáo dục Hoàng xuân Hãn được bổ sung, cải cách và áp dụng qua các thời Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục Phan huy Quát, Vương quang Nhường, Nguyễn thành Giang, Nguyễn dương Đôn, Trần hữuThế, Nguyễn quang Trình, Nguyễn lưu Viên, Trần ngọc Ninh và Ngô khắc Tĩnh[18]. Tùy theo thời điểm lịch sử, tiến trình giáo dục và khoa học thế giới, nhất là các Khuyến cáo 50 và 51 của UNESCO (Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên Hiệp Quốc) năm 1960, Hội Đồng Giáo Dục do Bộ Quốc Gia Giáo Dục thành lập cập nhật hóa cho phù hợp với tiến trình giáo dục Việt nam.

Một cách tổng quát, trước năm 1971, cấp Trung học gồm 2 cấp:

· Trung Học Đệ nhất cấp gồm các lớp: Đệ thất, Đệ lục, Đệ ngũ và Đệ tứ.

· Trung học Đệ nhị cấp gồm các lớp: Đệ tam, Đệ nhị và Đệ nhất chia làm 3 Ban:

- Ban A: Sinh vật, Vật lý hệ số 3.

- Ban B: Toán hệ số 4.

- Ban C: Văn, Triết và Ngoại ngữ hệ số 3.

4) Chế độ Thi cử:

Mãn Đệ tứ, thí sinh thi lấy bằng Trung học Đệ nhất cấp được tiếp tục nhập học Đệ tam, Trung học Đệ nhị cấp. Cho đến năm 1959, thi Trung học Đệ nhất cấp có hai phần: viết và vấn đáp. Thí sinh đậu thi viết mới được vào thi vấn đáp. Đậu cả hai kỳ mới được cấp văn bằng.

Mãn lớp Đệ nhị, thí sinh thi lấy bằng Tú Tài I. Đậu Tú Tài I mới được nhập học lớp Đệ nhất. Mãn Đệ nhất, thí sinh thi lấy bằng Tú Tài II. Có bằng Tú Tài II mới được thi tuyển vào Đại học, ngoại trừ các phân khoa tự do như Luật khoa, Văn khoa và Khoa học. Cho đến năm 1967, thí sinh thi Tú Tài I và II phải thi hai kỳ , thi viết và thi vấn đáp, như thi Trung học Đệ nhất cấp nói trên.

Từ 1954 – 1958, dưới thời Bộ trưởng Nguyễn dương Đôn, các văn bằng nói trên tiếp tục duy trì và được áp dụng đến niên khóa 1965 – 1966; sau đó, văn bằng Trung học Dệ nhất cấp bị bãi bỏ và thay thêÙ vào bằng Trung Học Tráng Niên dành cho thí sinh trên 18 tuổi. Bằng Tú Tài I và Tú Tài II được duy trì đến năm 1971. Kỳ thi Tú Tài I được hủy bỏ trong năm 1972 bởi Nghị định số 939 GD/KHPC/HV/NĐ ngày 7/4/72 vâ thiết lập văn bằng Tú Tài từ niên khóa 1973 – 1974. Nội dung kỳ thi Tú Tài được thay đổi, hủy bỏ chương trình thi viết, thay thế vào chương trình thi Trắc nghiệm Tú Tài IBM. Từ niên khóa 1973 –1974, học sinh học liên tục từ lớp 1 đến lớp 12 chỉ một lần thi trắc nghiệm duy nhất để lấy Văn bằng Tú Tài Phổ thông.

Tóm lại, trong thời gian 364 năm (1611 – 1975), nền giáo dục Phú yên đã trải qua một bước tiến dài, dù trải qua những bước thăng trầm: tấn công Champa, khai hoang lập thôn ấp, chiến cuộc cuối đời chúa Nguyễn và triều Nguyễn, chiến tranh Pháp Việt và sau hết là chiến tranh Quốc Cộng. Quốc âm được khởi phát dưới thời Nguyễn Tây sơn, Nho học được mở rộng dưới đầu triều Nguyễn, nhất là dưới triều vua Minh mạng. Dù giáo dục bị hạn chế tối đa dưới thời Pháp thuộc, những người Tây học Phú yên cũng đã đóng góp cho giáo dục Phú yên phát triển sau này, nhất là dưới thời Đệ nhị Cộng Hòa.



[1] . Xứ Quảng Nam gồm:

-Phủ Thăng hoa có 15 phường và thuộc

-Phủ Diện bàn có 4 thuộc

-Phủ Quảng nghĩa có 4 thuộc

-Phủ Qui nhơn có12 thuộc

-Phủ Phú yên có 38 thuộc

-Phủ Bình khang có 12 thuộc

-Phủ Diên ninh có 14 thuộc và châu

-Phủ Bình thuận có 20 thuộc và phường

[2] Nhiêu học là người đậu hạng Bính (hạng ba) của kỳ thi Chính đồ.

[3] Chính đồ là kỳ thi chia làm ba kỳ: đệ nhất thi tứ lục, đệ nhị thi thơ phú, và đệ tam thi văn sách. Người đậu hạng Giáp(hạng nhất) là Giám sinh, hạng Aát (hạng nhì) là Sinh đồ.

[4] Hoa văn thi ba ngày, mỗi ngày chỉ làm một bài thơ mà thôi.

[5] Văn tứ lục là thể văn câu trên 4 chữ, câu dưới 6 chữ, câu trên đối với câu trên, câu dưới đối với câu dưới, là tiểu đối. Đối ý, đối chữ, đối thanh và đối loại .

[6] Phú là văn thể gồm 8 vế hay còn được gọi là văn Bác cổ, có vần, câu này phải đối với câu kia chính xác.

- [7] Lớp Nhì năm thứ Hai đến đến niên khóa 1927 –1928 mới áp dụng .Từ 1900 đến 1927, chương trình Tiểu học vẫn 5 năm theo Nghị định ngày 18-9-1924 của Toàn quyền Merlin.

[8] Năm 1921 mới mở trường Cao đẳng Tiểu học Qui nhơn gọi là Collège Qui nhơn (sau này gọi là trường Trung học Đệ nhất cấp, tiếng Pháp gọi là Enseignement primaire supérieur hay Enseignement primaire complémentaire), thuộc tỉnh Bình định, dành cho hoc sinh sinh quán từ Quảng ngãi đến Bình thuận. Chương trình học tương tự như chương trình Pháp gồm 4 năm:

Nhất niên, Nhị niên, Tam niên và Tứ niên. Tất cả môn học dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ.

[9] Trần Sĩ (1910 - 2002) sinh tại Định phong, xã An nghiệp, quận Tuy an, được Nam triều ban thưởng Đệ ngũ Long Bội tinh năm 1942 và phong Hàn Lâm viện Thị giảng năm 1944.

[10] Nhà văn Võ Hồng và phu nhân cố Phan Diệu Báu là Giáo sư từ niên khóa này.

[11] Cố Giáo sư Huỳnh Tô là Giáo sư từ niên khóa này.

[12] Cố Giáo sư Huỳnh Diệu là Hiệu trưởng đầu tiên trường Trung học tư thục Bồ đề và sau này là Dân biểu khóa 1 (1967 – 1971), chế độ Đệ nhị Cộng hòa.

[13] Cố Đạo diễn Bùi sơn Duân là Giáo sư trường này.

[14] Từ 1952, niên khóa chỉ trong một năm và trong năm học có 4 tháng nghỉ giải: mộït vào mùa hè và một vào mùa đông.

[15] Người nhập học khóa Sư phạm Cấp tốc phải có bằng Trung học Đệ nhất cấp và phải qua một kỳ thi tuyển.

[16] Nhập học khóa Sư phạm Giáo học Bổ túc phải có bằng Tú tài I và phải qua kỳ thi tuyển.

[17] Trường Tỉnh hạt là trường sở xây cất bởi địa phương, Giáo sư và nhân viên do Ngân sách Quốc gia đài thọ.

[18] Một vài Bộ trưởng khác giữ chức vụ trong thời gian ngắn, không có bổ sung nào đáng kể, nên không được ghi nhận ở đây.