Nhà Thờ Phát Diệm
http://www.photo.com.vn/Forums/viewtopic/t=303.html
http://www.photo.com.vn/Forums/viewtopic/t=303.html
TVT
Lần này điểm dừng chân đầu tiên của các thành viên photo.com.vn là nhà thờ Phát Diệm - Ninh Bình.
Các Thành Viên Tham Gia: longpt (Canon EOS III) , Nason (Canon 20D) , Sicily198x (Canon 10D), loayhoay(Nikon D70) , having_bath (Canon 1Ds Mark II) , hanoiroxy1996( Canon G6)
Thời Gian Xuất Phát: 3giờ30 sáng chủ nhật 17 tháng 7 năm 2005 ( về đến Hà Nội 22giờ30 cùng ngày )
Đường Đi: Theo quốc lộ 1 từ Hà Nội vào đến Thị Xã Ninh Bình 95KM rẽ phía Đông Nam đi theo đường số 10 được 28km là tới thị trấn Phát Diệm. Ở bên trái thấy cây cầu ngói cổ (cầu có mái ) đi thêm chừng 100 m rẽ sang tay phải (hướng bắc) theo một con đường trải nhựa dài khoảng 250 mét dân ở đây quen gọi là đường giữa thì đến khu Nhà Thờ Phát Diệm.
Mời các bạn đến thăm quan nhà thờ Phát Diệm qua góc nhìn của các nhiếp ảnh gia nghiệp dư
Phần 1: Cái nhìn tổng quan về nhà thờ Phát Diệm
Phần 2 : Một số chi tiết kiến trúc đẹp
Phần 3: Con người Phát Diệm
Phần 4: Hậu Trường và vui nhộn
Phần 1:
Tổng Quan về nhà thờ Phát Diệm:
Quần thể nhà thờ Phát Diệm gồm 1 nhà thờ lớn và 5 nhà thờ nhỏ (trong đó có một nhà thờ được xây dựng bằng đá tự nhiên, được gọi là nhà thờ đá), 1 phương đình (nhà chuông, quả chuông nặng gần 2 tấn, tiếng chuông ngân 3 tỉnh nghe tiếng: Nam Định, Ninh Bình và Thanh Hoá), ao hồ và 3 hang đá nhân tạo. Công trình kiến trúc được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa này được khởi công xây dựng 1875 và hoàn thành sau 24 năm (1899) dưới dự chỉ đạo của Linh mục Phêrô Trần Lục (Cha Sáu) và công sức giáo dân Kim Sơn. Điểm đặc biệt của nhà thờ Phát Diệm là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc nhà thờ châu Âu và kiến trúc đình chùa Việt Nam.
Vị Trí :
Thuộc địa phận thị trấn Phát Diệm huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội 130 km về phía Nam
Nguồn Gốc :
Phát Diệm có nghĩa là phát sinh ra cái đẹp, tên Phát Diệm do Nguyễn Công Trứ đặt. Kim Sơn vốn là vùng đất mới khai khẩn, trước đây rất lầy lội, để xử lý độ lún của khu đất trước khi xây dựng người ta đã chuyển cả một quả núi nhỏ cách 40 km về Phát Diệm, khách về thăm nhà thờ còn thấy núi Sọ, đấy chính là một phần của trái núi đã được dân rời về Phát Diệm
Nhà thờ lớn Phát Diệm khởi sự dựng lên năm 1891 cho tới khi thượng lương (dựng nóc), ngày 23 tháng 6 chỉ trong vòng ba tháng. Cha Trần Lục dâng hiến thánh đường kính Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi. Thánh đường hoàn tất vào bốn năm sau là năm 1895. Trước ngày khởi sự dựng lên, việc chuẩn bị sắm vật liệu gỗ đá và tụ chân móng đã kéo dài mười bốn năm về trước, nghĩa là từ năm 1877. Công trình toàn bộ còn tiếp tục trong nhiều năm sau, cho đến năm cha Trần Lục qua đời (1899).
Nét Đặc Trưng
Ông Nguyễn Văn Giao, hướng dẫn viên phục vụ Nhà thờ cho biết: "Nói công trình này giống đình chùa là rất đúng. Cha Trần Lục- người kiến trúc sư của công trình có mong muốn rằng, qua công trình này nói lên tính chất hòa hợp và sự hội nhập giữa đạo công giáo với nền văn hóa kiến trúc của dân tộc cũng như sự hòa hợp giữa công giáo với các tôn giáo khác ở Việt Nam; nói lên tính đoàn kết".
Mặt bằng tổng thể được bố trí tuần tự, từ ngoài vào là ao hồ rồi một sân rộng, kế đến là Phương Ðình có chung sân trong với Nhà Thờ Lớn. Phía cuối là hang Bê-lem và Lộ-đức. Nhà Thờ Lớn còn là trọng tâm và là trục đối xứng của 4 Nhà Nguyện nhỏ: 2 Nhà Nguyện kính Thánh Giu-se, Thánh Phê-rô ở bên trái, 2 Nhà Nguyện kính Thánh Rô-cô và Trái Tim Chúa Giê-su ở bên phải. Giáp phía Tây Bắc là Nhà Thờ Ðá kính Trái Tim Ðức Mẹ, có hang Núi Sọ ở phía trước. Toàn bộ diện tích còn lại ở phía sau được dành cho các cơ sở của Nhà Chung.
Như vậy, đa số các công trình trong quần thể đều được bố trí trải dài theo một trục chính và đối xứng qua trục, tuân theo những quy luật bố trí rất phổ biến trong mặt bằng các kiến trúc tôn giáo truyền thống. Quy luật tổ hợp này đảm bảo cho mặt bằng quần thể tuân thủ được thứ tự bố cục các công trình theo chiều sâu, đồng thời vẫn có thể trải dài mặt đứng theo diện rộng. Ðây cũng còn là cố gắng nhằm giữ được phong cách xử lý mặt đứng phát triển trên phân vị ngang, một đặc trưng khác của kiến trúc truyền thống
Kiến trúc sư Đoàn Khắc Tình, Cán bộ Hội Kiến trúc sư Việt Nam đánh giá: "Nhà thờ Phát Diệm là một quần thể kiến trúc khá hoàn hảo và kế thừa kiến trúc truyền thống. Công trình này trải qua thời gian xây dựng là ¼ thế kỷ. Phát Diệm là vùng đất bãi bồi ven biển nên để xây dựng công trình với khối lượng lớn vật liệu sử dụng chất liệu đá rất nặng việc xử lý tải trọng và nền móng công trình được các nhà xây dựng nên nhà thờ Phát Diệm quan tâm cho nên sau hơn 100 năm tồn tại về cơ bản, nền móng vẫn còn tốt. Với một trình độ hoàn toàn thủ công thời bấy giờ, quả là một kỳ công…".
2. Ao Hồ
3. Tượng Chúa Jesu
4. Cổng Nhỏ Đông
5. Cổng Đá Đông
6. Phương Đình
7. Sân giữa & Lăng Cụ Sáu
8. Nhà Thờ Lớn
9. Nhà Thờ Thánh Giuse
10. Nhà thờ thánh Phê rô
11. Nhà Thờ Đá
12. Núi Sọ
13. Hang đá Belem
14. Vòi Phun Nước
15. Toà Giám Mục
16. Hang Đa Lộ Đức
17. Nhà thờ trái tim chúa Jê su
18. Nhà Thờ Thánh Rôcô
19. Nhà Hát nam Thanh
Theo một số nhà nghiên cứu, tổ hợp mặt bằng này còn hợp cách với các quy luật tổ hợp theo Ðịa lý - Phong thủy, với cách "phân thế" theo sơ đồ sau:

Về hình dạng mặt bằng công trình, nếu hình dung một vạch ngang thứ nhất nối liền qua hai cổng Nhà Thờ (đi ngang qua Phương Ðình và sân trong), vạch ngang thứ hai nối Nhà Nguyện kính Thánh Rô-cô đến Nhà Nguyện kính Thánh Giu-se, và vạch ngang cuối cùng nối từ Nhà Thờ kính Trái Tim Chúa Giê-su đến Nhà Nguyện kính Thánh Phê-rô, chúng ta có được 3 vạch ngang, hợp với vạch sổ dọc là Nhà Thờ Lớn kính Ðức Mẹ Mân-côi, thành một chữ VƯƠNG theo Hán tự.

Phải chăng đây là hàm ý của tác giả công trình muốn thể hiện lòng xác tín vào Ðức Ki-tô là Con Thiên Chúa, là Vua của muôn dân, của vũ trụ?

Du khách ngày nay bước vào khu thánh đường trước hết phải vòng quanh một cái ao hồ rộng một mẫu, ở giữa hồ trên một cái gò nhân tạo có tượng Chúa Giê-su Vua cao 3 mét (1925).

Du khách bước vào sân rộng lớn qua cổng đá phía tây. Sân này cũng rộng tới một mẫu, sân lát đá thước làm đường kiệu chung quanh nhà thờ, những chỗ khác lát gạch Bát Tràng.Số 5 trên sơ đồ
Trên sân là phương đình (nhà vuông), hình dáng như cái đình làng rộng lớn trống trải, ngang 24 mét, sâu 17 mét, cao 25 mét, ba tầng. Tầng giữa có một trống cái, tầng trên cùng có quả chuông nam cao 1,9 mét (đúc năm1890), đường kính 1,1 mét, nặng gần 2 tấn, âm thanh vọng đi xa tới 10 cây số. Phương đình hoàn thành năm 1899, là công trình sau hết của cha Trần Lục, và theo ý kiến của nhiều người, là kiệt tác của toàn bộ.
Phương Ðình là phòng họp chung, có những bàn đá để ngồi. Bánh chưng vuông tượng trưng cho đất. Mọi sinh hoạt trần thế được qui tụ nơi đây, gồm cả “hoa mầu ruộng đất và lao công của con người”, buồn, vui, đắng, ngọt. Mọi diễn trình của cuộc sống đều có góc có cạnh. Cả con người cũng bị giới hạn bởi không gian và thời gian trong cái bị thịt như cái hộp vuông góc. Nhưng trong thâm tâm con người luôn ước vọng vươn tới vô biên. Cõi vô biên toàn mãn của trời được tượng trưng bằng bánh dầy tròn.
Những bế tắc nhốt giam trong cái hộp vuông thì ai cũng cảm thấy. Nhưng đây là con đường hóa giải: Bước vào đình vuông là dám chấp nhận thực trạng cuộc sống với tất cả mọi khía cạnh, và di chuyển vào nhà thờ để cho sức thiêng cảm hóa thành hòa hợp vuông tròn. Ðây là cả một đạo lý sống được diễn ra bằng đường nét hiển hiện, như một qui trình đạt vuông tròn, mẹ tròn con vuông. Chứ những con đường duy vật, chỉ cậy dựa vào sức riêng của cái hộp vuông hữu hạn, thì chỉ mang lại những hậu quả chém giết hãi hùng như đã từng thấy trong lịch sử nhân loại
Số 6 trên sơ đồ

Mặt tiền nhà thờ lớn dưới có 05 lối vào bằng đá, phía trên có 03 tháp vuông bằng gạch có mái cong. Trên đỉnh tháp giữa, có tượng hai thiên Thần cầm thánh giá, hai bên là hai thiên thần khác nổi loạn, dưới là bốn chữ hán"Thẩm Phán Tiền Triệu ("Điềm báo trước ngày Phán xét)
Bước qua Phương Ðình vào Nhà Thờ Lớn, bạn đang đi vào một diễn trình biến đổi. Từ một nếp sống tầm thường đến một cuộc sống hoàng vương như hoàng tử Tiết Liệu đã làm với của lễ bánh chưng vuông hòa hợp với bánh dầy tròn. Từ những góc cạnh nhọn hoắt của đất thấp đến vòng tròn viên mãn trời cao.
Cụ Sáu Trần Lục quả là đã thấy được sức mạnh biến đổi của tiềm thức khi xây Nhà Thờ Lớn với một bầu khí như hang động. Từ ngoài bước vào trong, phải một lúc mới nhìn rõ, vì bên trong tối hơn bên ngoài nhiều, tạo nên một bầu khí trầm mặc thuận tiện dìu con người vào một chiều kích siêu vượt. Năm cửa chính của Nhà Thờ Lớn điêu khắc những bức tiêu biểu kỳ bí của sự hợp thông hai lối kiến trúc đông - tây, hình ảnh đạo Chúa nằm bên cạnh hình ảnh bông sen của Phật, hai thế giới xem ra xung khắc. Yvonne Schultz trong báo Illustration ngày 9.11.1929 đã nhận thấy như sau:
“Những bông sen, cây cau, cây chuối che bóng những cảnh Thánh Kinh, mấy chú bò mọc sừng trâu, những nhân vật giống dáng người sơ khai, nhưng lại mang vẻ mặt người Phật giáo... Tất cả những điêu khắc kỳ lạ đó làm tôi ngỡ ngàng và cảm phục vô cùng.”
Người Da Ðỏ thường làm lễ Quan cho một đứa con bước vào tuổi trưởng thành bằng cách đưa vào trong một cái hang trống. Vào trong hang trống là vào cõi huyền nhiệm, để con người vượt ra khỏi cái hộp không gian và thời gian chật hẹp thường ngày, mà vươn tới một chiều kích mới rộng mở. Ðó là chiều kích thư tư, chỉ có thể thấy được bằng con mắt thứ ba, con mắt của tâm.
Như vậy, nhà thờ tự căn bản, là cái “hang trống”, để con người có thể vươn tới huyền nhiệm. Và các nghi lễ phụng vụ phải là những tác động dẫn con người vào chiều kích này. Ðến nhà thờ hay tham dự phụng vụ, chẳng phải để nghe hiểu cái này điều kia, mà là một cuộc biến đổi sâu xa bằng tác động, bằng biểu tượng.
Ðể tạo bầu khí “hang trống” huyền linh, nhà thờ thường đừng quá nhiều ánh sáng mà phải trầm mặc u linh. Âm thanh phải siêu thoát, thường được phả bằng tiếng phong cầm như gió thoảng qua ống tre ống trúc, chứ không phải là những điệu nhạc ù tai nhức óc làm bấn loạn tâm thần. Mùi hương dịu thơm làm thư giãn khứu giác và làm cho hơi thở trầm lại êm ả.
Cái bầu khí tròn “hang trống” như trên phải được đề cao để thay thế cho những ồn ào náo động của nhiều nhà thờ, chỉ khiến người tham dự thêm mệt mỏi hơn là tìm thấy an bình thảnh thơi để vươn tới một thực tại siêu vượt. Và nếu phụng vụ Công Giáo không dẫn con người đến được chiều kích thứ tư này thì xì ke ma túy sẽ được thay thế vào đó với hậu quả tai hại biết chừng nào. Và hiện tượng xảy ra là một số giới trẻ Công Giáo chạy theo những nhóm đạo thần bí, một số khác kể cả người có tuổi cũng hồ hởi với những niềm tin rất ư hiếu kỳ như nhân điện của hỏa xà Kundalini trong những luân xa nhặt được ở mãi bên xứ Ấn.
Giáo sư Kim Ðịnh đã nhận xét thật sâu xa về nghệ thuật nói chung, có liên hệ đến kiến trúc và những xếp đặt tạo bầu khí phụng vụ:
“Lý tưởng nghệ thuật là cố gắng biểu lộ vô biên xuyên qua những cái hữu hạn. Vì thế khi tiếp nhận với nghệ thuật chân chính ta cảm thấy cái chi như thấm vào tâm hồn, như được vén màn lên để chạm tới cái chi man mác. Ðiều này dẫn tới một nhận xét khác là lý tưởng của nghệ thuật cũng chính là lý tưởng con người, vì con người cũng luôn luôn hướng về siêu việt. Có thể nói, lý tưởng của nghệ thuật sao, lý tưởng con người cũng vậy: tức cũng như nghệ thuật, con người luôn cố gắng kết hợp với cái chi vô biên thường được gọi là thần là thánh.” (Sứ Ðiệp Trống Ðồng, trang 90).

Mặt tiền nhà thờ lớn nhìn từ một góc khác

Thánh đường lớn gồm chín gian với sáu hàng cột gỗ lim, tổng cộng bốn mươi tám cây cột đỡ lấy bốn mái, mười sáu cây cột ở giữa chu vi 2,35 mét, cao 11 mét, nặng 7 tấn. Ở gian trước cung thánh, trên thượng lương (xà dọc cao nhất) có ghi ngày dựng nóc 17 tháng 5 năm thứ ba Thành Thái (23.6.1891). Trên cung thánh (cao hơn hai bậc, hai gian, không cột), Du khách nhìn ngắm cái bàn thờ là một khối đá dài 3 mét, rộng 0,9 mét, cao 0,97 mét, ba mặt có chạm trổ hoa lá. (Tháng 10 năm 1990, nhân dịp khai mạc kỷ niệm một trăm năm có đặt thêm một bàn thờ trông xuống bằng một phiến đá dài 3 mét, rộng 0,9 mét, dày 0,2 mét). Tiếp lên cao tới nóc là toàn bộ gỗ chạm khắc tinh xảo sơn son thiếp vàng (vàng y) chói lọi. Chính giữa là toà Đức Mẹ bế Chúa Con phía trên có bảy cửa kính vẽ hình sáu thánh tử đạo đứng hai bên Chúa Giê-su Vua. Trên cùng là khung ảnh Đức Mẹ ban tràng hạt Mân Côi cho thánh Đa-minh, chung quanh có mười hai thiên thần.

Hai bên thánh đường toàn là cửa gỗ, mỗi bên hai mươi tám cánh. Hiên rộng 1,5 mét nền đá, nhìn chiều dài hun hút 74 mét, rộng 21 mét. Lùi xa một chút, khách thấy mái thánh đường có hai tầng, giữa mái trên và mái dưới là một hàng cửa sổ để lấy ánh sáng và không khí.

Các Thành Viên Tham Gia: longpt (Canon EOS III) , Nason (Canon 20D) , Sicily198x (Canon 10D), loayhoay(Nikon D70) , having_bath (Canon 1Ds Mark II) , hanoiroxy1996( Canon G6)
Thời Gian Xuất Phát: 3giờ30 sáng chủ nhật 17 tháng 7 năm 2005 ( về đến Hà Nội 22giờ30 cùng ngày )
Đường Đi: Theo quốc lộ 1 từ Hà Nội vào đến Thị Xã Ninh Bình 95KM rẽ phía Đông Nam đi theo đường số 10 được 28km là tới thị trấn Phát Diệm. Ở bên trái thấy cây cầu ngói cổ (cầu có mái ) đi thêm chừng 100 m rẽ sang tay phải (hướng bắc) theo một con đường trải nhựa dài khoảng 250 mét dân ở đây quen gọi là đường giữa thì đến khu Nhà Thờ Phát Diệm.
Mời các bạn đến thăm quan nhà thờ Phát Diệm qua góc nhìn của các nhiếp ảnh gia nghiệp dư
Phần 1: Cái nhìn tổng quan về nhà thờ Phát Diệm
Phần 2 : Một số chi tiết kiến trúc đẹp
Phần 3: Con người Phát Diệm
Phần 4: Hậu Trường và vui nhộn
Phần 1:
Tổng Quan về nhà thờ Phát Diệm:
Quần thể nhà thờ Phát Diệm gồm 1 nhà thờ lớn và 5 nhà thờ nhỏ (trong đó có một nhà thờ được xây dựng bằng đá tự nhiên, được gọi là nhà thờ đá), 1 phương đình (nhà chuông, quả chuông nặng gần 2 tấn, tiếng chuông ngân 3 tỉnh nghe tiếng: Nam Định, Ninh Bình và Thanh Hoá), ao hồ và 3 hang đá nhân tạo. Công trình kiến trúc được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa này được khởi công xây dựng 1875 và hoàn thành sau 24 năm (1899) dưới dự chỉ đạo của Linh mục Phêrô Trần Lục (Cha Sáu) và công sức giáo dân Kim Sơn. Điểm đặc biệt của nhà thờ Phát Diệm là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc nhà thờ châu Âu và kiến trúc đình chùa Việt Nam.
Vị Trí :
Thuộc địa phận thị trấn Phát Diệm huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội 130 km về phía Nam
Nguồn Gốc :
Phát Diệm có nghĩa là phát sinh ra cái đẹp, tên Phát Diệm do Nguyễn Công Trứ đặt. Kim Sơn vốn là vùng đất mới khai khẩn, trước đây rất lầy lội, để xử lý độ lún của khu đất trước khi xây dựng người ta đã chuyển cả một quả núi nhỏ cách 40 km về Phát Diệm, khách về thăm nhà thờ còn thấy núi Sọ, đấy chính là một phần của trái núi đã được dân rời về Phát Diệm
Nhà thờ lớn Phát Diệm khởi sự dựng lên năm 1891 cho tới khi thượng lương (dựng nóc), ngày 23 tháng 6 chỉ trong vòng ba tháng. Cha Trần Lục dâng hiến thánh đường kính Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi. Thánh đường hoàn tất vào bốn năm sau là năm 1895. Trước ngày khởi sự dựng lên, việc chuẩn bị sắm vật liệu gỗ đá và tụ chân móng đã kéo dài mười bốn năm về trước, nghĩa là từ năm 1877. Công trình toàn bộ còn tiếp tục trong nhiều năm sau, cho đến năm cha Trần Lục qua đời (1899).
Nét Đặc Trưng
Ông Nguyễn Văn Giao, hướng dẫn viên phục vụ Nhà thờ cho biết: "Nói công trình này giống đình chùa là rất đúng. Cha Trần Lục- người kiến trúc sư của công trình có mong muốn rằng, qua công trình này nói lên tính chất hòa hợp và sự hội nhập giữa đạo công giáo với nền văn hóa kiến trúc của dân tộc cũng như sự hòa hợp giữa công giáo với các tôn giáo khác ở Việt Nam; nói lên tính đoàn kết".
Mặt bằng tổng thể được bố trí tuần tự, từ ngoài vào là ao hồ rồi một sân rộng, kế đến là Phương Ðình có chung sân trong với Nhà Thờ Lớn. Phía cuối là hang Bê-lem và Lộ-đức. Nhà Thờ Lớn còn là trọng tâm và là trục đối xứng của 4 Nhà Nguyện nhỏ: 2 Nhà Nguyện kính Thánh Giu-se, Thánh Phê-rô ở bên trái, 2 Nhà Nguyện kính Thánh Rô-cô và Trái Tim Chúa Giê-su ở bên phải. Giáp phía Tây Bắc là Nhà Thờ Ðá kính Trái Tim Ðức Mẹ, có hang Núi Sọ ở phía trước. Toàn bộ diện tích còn lại ở phía sau được dành cho các cơ sở của Nhà Chung.
Như vậy, đa số các công trình trong quần thể đều được bố trí trải dài theo một trục chính và đối xứng qua trục, tuân theo những quy luật bố trí rất phổ biến trong mặt bằng các kiến trúc tôn giáo truyền thống. Quy luật tổ hợp này đảm bảo cho mặt bằng quần thể tuân thủ được thứ tự bố cục các công trình theo chiều sâu, đồng thời vẫn có thể trải dài mặt đứng theo diện rộng. Ðây cũng còn là cố gắng nhằm giữ được phong cách xử lý mặt đứng phát triển trên phân vị ngang, một đặc trưng khác của kiến trúc truyền thống
Kiến trúc sư Đoàn Khắc Tình, Cán bộ Hội Kiến trúc sư Việt Nam đánh giá: "Nhà thờ Phát Diệm là một quần thể kiến trúc khá hoàn hảo và kế thừa kiến trúc truyền thống. Công trình này trải qua thời gian xây dựng là ¼ thế kỷ. Phát Diệm là vùng đất bãi bồi ven biển nên để xây dựng công trình với khối lượng lớn vật liệu sử dụng chất liệu đá rất nặng việc xử lý tải trọng và nền móng công trình được các nhà xây dựng nên nhà thờ Phát Diệm quan tâm cho nên sau hơn 100 năm tồn tại về cơ bản, nền móng vẫn còn tốt. Với một trình độ hoàn toàn thủ công thời bấy giờ, quả là một kỳ công…".
Toàn cảnh quần thể nhà thờ Phát Diệm


2. Ao Hồ
3. Tượng Chúa Jesu
4. Cổng Nhỏ Đông
5. Cổng Đá Đông
6. Phương Đình
7. Sân giữa & Lăng Cụ Sáu
8. Nhà Thờ Lớn
9. Nhà Thờ Thánh Giuse
10. Nhà thờ thánh Phê rô
11. Nhà Thờ Đá
12. Núi Sọ
13. Hang đá Belem
14. Vòi Phun Nước
15. Toà Giám Mục
16. Hang Đa Lộ Đức
17. Nhà thờ trái tim chúa Jê su
18. Nhà Thờ Thánh Rôcô
19. Nhà Hát nam Thanh
Theo một số nhà nghiên cứu, tổ hợp mặt bằng này còn hợp cách với các quy luật tổ hợp theo Ðịa lý - Phong thủy, với cách "phân thế" theo sơ đồ sau:

Về hình dạng mặt bằng công trình, nếu hình dung một vạch ngang thứ nhất nối liền qua hai cổng Nhà Thờ (đi ngang qua Phương Ðình và sân trong), vạch ngang thứ hai nối Nhà Nguyện kính Thánh Rô-cô đến Nhà Nguyện kính Thánh Giu-se, và vạch ngang cuối cùng nối từ Nhà Thờ kính Trái Tim Chúa Giê-su đến Nhà Nguyện kính Thánh Phê-rô, chúng ta có được 3 vạch ngang, hợp với vạch sổ dọc là Nhà Thờ Lớn kính Ðức Mẹ Mân-côi, thành một chữ VƯƠNG theo Hán tự.

Phải chăng đây là hàm ý của tác giả công trình muốn thể hiện lòng xác tín vào Ðức Ki-tô là Con Thiên Chúa, là Vua của muôn dân, của vũ trụ?

Du khách ngày nay bước vào khu thánh đường trước hết phải vòng quanh một cái ao hồ rộng một mẫu, ở giữa hồ trên một cái gò nhân tạo có tượng Chúa Giê-su Vua cao 3 mét (1925).

Du khách bước vào sân rộng lớn qua cổng đá phía tây. Sân này cũng rộng tới một mẫu, sân lát đá thước làm đường kiệu chung quanh nhà thờ, những chỗ khác lát gạch Bát Tràng.Số 5 trên sơ đồ
Trên sân là phương đình (nhà vuông), hình dáng như cái đình làng rộng lớn trống trải, ngang 24 mét, sâu 17 mét, cao 25 mét, ba tầng. Tầng giữa có một trống cái, tầng trên cùng có quả chuông nam cao 1,9 mét (đúc năm1890), đường kính 1,1 mét, nặng gần 2 tấn, âm thanh vọng đi xa tới 10 cây số. Phương đình hoàn thành năm 1899, là công trình sau hết của cha Trần Lục, và theo ý kiến của nhiều người, là kiệt tác của toàn bộ.
Phương Ðình là phòng họp chung, có những bàn đá để ngồi. Bánh chưng vuông tượng trưng cho đất. Mọi sinh hoạt trần thế được qui tụ nơi đây, gồm cả “hoa mầu ruộng đất và lao công của con người”, buồn, vui, đắng, ngọt. Mọi diễn trình của cuộc sống đều có góc có cạnh. Cả con người cũng bị giới hạn bởi không gian và thời gian trong cái bị thịt như cái hộp vuông góc. Nhưng trong thâm tâm con người luôn ước vọng vươn tới vô biên. Cõi vô biên toàn mãn của trời được tượng trưng bằng bánh dầy tròn.
Những bế tắc nhốt giam trong cái hộp vuông thì ai cũng cảm thấy. Nhưng đây là con đường hóa giải: Bước vào đình vuông là dám chấp nhận thực trạng cuộc sống với tất cả mọi khía cạnh, và di chuyển vào nhà thờ để cho sức thiêng cảm hóa thành hòa hợp vuông tròn. Ðây là cả một đạo lý sống được diễn ra bằng đường nét hiển hiện, như một qui trình đạt vuông tròn, mẹ tròn con vuông. Chứ những con đường duy vật, chỉ cậy dựa vào sức riêng của cái hộp vuông hữu hạn, thì chỉ mang lại những hậu quả chém giết hãi hùng như đã từng thấy trong lịch sử nhân loại
Số 6 trên sơ đồ

Mặt tiền nhà thờ lớn dưới có 05 lối vào bằng đá, phía trên có 03 tháp vuông bằng gạch có mái cong. Trên đỉnh tháp giữa, có tượng hai thiên Thần cầm thánh giá, hai bên là hai thiên thần khác nổi loạn, dưới là bốn chữ hán"Thẩm Phán Tiền Triệu ("Điềm báo trước ngày Phán xét)
Bước qua Phương Ðình vào Nhà Thờ Lớn, bạn đang đi vào một diễn trình biến đổi. Từ một nếp sống tầm thường đến một cuộc sống hoàng vương như hoàng tử Tiết Liệu đã làm với của lễ bánh chưng vuông hòa hợp với bánh dầy tròn. Từ những góc cạnh nhọn hoắt của đất thấp đến vòng tròn viên mãn trời cao.
Cụ Sáu Trần Lục quả là đã thấy được sức mạnh biến đổi của tiềm thức khi xây Nhà Thờ Lớn với một bầu khí như hang động. Từ ngoài bước vào trong, phải một lúc mới nhìn rõ, vì bên trong tối hơn bên ngoài nhiều, tạo nên một bầu khí trầm mặc thuận tiện dìu con người vào một chiều kích siêu vượt. Năm cửa chính của Nhà Thờ Lớn điêu khắc những bức tiêu biểu kỳ bí của sự hợp thông hai lối kiến trúc đông - tây, hình ảnh đạo Chúa nằm bên cạnh hình ảnh bông sen của Phật, hai thế giới xem ra xung khắc. Yvonne Schultz trong báo Illustration ngày 9.11.1929 đã nhận thấy như sau:
“Những bông sen, cây cau, cây chuối che bóng những cảnh Thánh Kinh, mấy chú bò mọc sừng trâu, những nhân vật giống dáng người sơ khai, nhưng lại mang vẻ mặt người Phật giáo... Tất cả những điêu khắc kỳ lạ đó làm tôi ngỡ ngàng và cảm phục vô cùng.”
Người Da Ðỏ thường làm lễ Quan cho một đứa con bước vào tuổi trưởng thành bằng cách đưa vào trong một cái hang trống. Vào trong hang trống là vào cõi huyền nhiệm, để con người vượt ra khỏi cái hộp không gian và thời gian chật hẹp thường ngày, mà vươn tới một chiều kích mới rộng mở. Ðó là chiều kích thư tư, chỉ có thể thấy được bằng con mắt thứ ba, con mắt của tâm.
Như vậy, nhà thờ tự căn bản, là cái “hang trống”, để con người có thể vươn tới huyền nhiệm. Và các nghi lễ phụng vụ phải là những tác động dẫn con người vào chiều kích này. Ðến nhà thờ hay tham dự phụng vụ, chẳng phải để nghe hiểu cái này điều kia, mà là một cuộc biến đổi sâu xa bằng tác động, bằng biểu tượng.
Ðể tạo bầu khí “hang trống” huyền linh, nhà thờ thường đừng quá nhiều ánh sáng mà phải trầm mặc u linh. Âm thanh phải siêu thoát, thường được phả bằng tiếng phong cầm như gió thoảng qua ống tre ống trúc, chứ không phải là những điệu nhạc ù tai nhức óc làm bấn loạn tâm thần. Mùi hương dịu thơm làm thư giãn khứu giác và làm cho hơi thở trầm lại êm ả.
Cái bầu khí tròn “hang trống” như trên phải được đề cao để thay thế cho những ồn ào náo động của nhiều nhà thờ, chỉ khiến người tham dự thêm mệt mỏi hơn là tìm thấy an bình thảnh thơi để vươn tới một thực tại siêu vượt. Và nếu phụng vụ Công Giáo không dẫn con người đến được chiều kích thứ tư này thì xì ke ma túy sẽ được thay thế vào đó với hậu quả tai hại biết chừng nào. Và hiện tượng xảy ra là một số giới trẻ Công Giáo chạy theo những nhóm đạo thần bí, một số khác kể cả người có tuổi cũng hồ hởi với những niềm tin rất ư hiếu kỳ như nhân điện của hỏa xà Kundalini trong những luân xa nhặt được ở mãi bên xứ Ấn.
Giáo sư Kim Ðịnh đã nhận xét thật sâu xa về nghệ thuật nói chung, có liên hệ đến kiến trúc và những xếp đặt tạo bầu khí phụng vụ:
“Lý tưởng nghệ thuật là cố gắng biểu lộ vô biên xuyên qua những cái hữu hạn. Vì thế khi tiếp nhận với nghệ thuật chân chính ta cảm thấy cái chi như thấm vào tâm hồn, như được vén màn lên để chạm tới cái chi man mác. Ðiều này dẫn tới một nhận xét khác là lý tưởng của nghệ thuật cũng chính là lý tưởng con người, vì con người cũng luôn luôn hướng về siêu việt. Có thể nói, lý tưởng của nghệ thuật sao, lý tưởng con người cũng vậy: tức cũng như nghệ thuật, con người luôn cố gắng kết hợp với cái chi vô biên thường được gọi là thần là thánh.” (Sứ Ðiệp Trống Ðồng, trang 90).

Mặt tiền nhà thờ lớn nhìn từ một góc khác

Thánh đường lớn gồm chín gian với sáu hàng cột gỗ lim, tổng cộng bốn mươi tám cây cột đỡ lấy bốn mái, mười sáu cây cột ở giữa chu vi 2,35 mét, cao 11 mét, nặng 7 tấn. Ở gian trước cung thánh, trên thượng lương (xà dọc cao nhất) có ghi ngày dựng nóc 17 tháng 5 năm thứ ba Thành Thái (23.6.1891). Trên cung thánh (cao hơn hai bậc, hai gian, không cột), Du khách nhìn ngắm cái bàn thờ là một khối đá dài 3 mét, rộng 0,9 mét, cao 0,97 mét, ba mặt có chạm trổ hoa lá. (Tháng 10 năm 1990, nhân dịp khai mạc kỷ niệm một trăm năm có đặt thêm một bàn thờ trông xuống bằng một phiến đá dài 3 mét, rộng 0,9 mét, dày 0,2 mét). Tiếp lên cao tới nóc là toàn bộ gỗ chạm khắc tinh xảo sơn son thiếp vàng (vàng y) chói lọi. Chính giữa là toà Đức Mẹ bế Chúa Con phía trên có bảy cửa kính vẽ hình sáu thánh tử đạo đứng hai bên Chúa Giê-su Vua. Trên cùng là khung ảnh Đức Mẹ ban tràng hạt Mân Côi cho thánh Đa-minh, chung quanh có mười hai thiên thần.

Hai bên thánh đường toàn là cửa gỗ, mỗi bên hai mươi tám cánh. Hiên rộng 1,5 mét nền đá, nhìn chiều dài hun hút 74 mét, rộng 21 mét. Lùi xa một chút, khách thấy mái thánh đường có hai tầng, giữa mái trên và mái dưới là một hàng cửa sổ để lấy ánh sáng và không khí.


0 Comments:
Post a Comment
<< Home