TUVOTA
Thursday, December 15, 2005
Sunday, December 11, 2005
Bài ký từ đường họ Ngô
Một nhà tụ tập được cái phúc của trời đất, một người mà tiêu biểu cho muôn đời . Xét ra đều do tạo hoá cả. Khi số hưng thịnh, ban đầu tất cả đều phải có gốc, giữa phải có nối tiếp, sau phải có thành tựu . Sao nói là lòng tạo hoá? Muốn có phúc lớn, lấy khó khăn thử thách trước để kiên trì tấm lòng tích phúc, rối sau phúc sẽ đến lâu dài . Muốn có nhiều điều kiện, trước phải gặp ngang trái để rèn cái trí tu thiện, rồi sau điều thiện sẽ được báo đền mãi mãi . Thiện và phúc được báo đền là ứng với khí vận. Tầm thường trở nên thần kỳ, rơm cở trở nên nhà đẹp, trước hèn, nay quý; trước nhục, nay vinh; trước không nay có. Người anh hùng của non sông làm nên vẻ mới, nếu không có chốn mở ra sao được như thế ?
Cha con Ngô tướng công của châu ta là bậc khai quốc công đầu . Cháu con là danh tướng thời Trung hưng. Một nửa son tía, muôn đời chi lan. Người ta nói là nhờ đất phát phúc. Tôi nói đây là trời báo đức. Tôi liên hệ người có đức này là nhờ các bậc tiên thế tích luỹ âm công, trời cho phúc, đất lành bồi đắp lên. Một gốc hai thân, nghìn vạn cháu con. Đó là cái gốc ban đầu vậy . Từ tướng công về sau các bậc Vương, Công, Hầu, Bá , quan chức. Khoa danh đã trải trên 300 năm với hơn 200 người con ưu tú. Tất cả đếu trung trinh một dạ, giúp nước hết lòng, ân huệ khắp cho dân. Những niềm vui lớn để mãi cho cháu con, vang mãi trong tai mắt người ta . Đó là ở giữa nối tiếp, người sau nối được chí ấy, thuật lại việc ấy . Điều thiện cùng sánh cao với núi Quy, núi Phượng. Núi Quy, Núi Phượng vĩnh viễn kết đọng tuấn tú. Phúc cùng sánh sâu sông Mã , sông Lương ( tức sông Chu ). Nước sông Mã, sông Lương vĩnh viễn ngưng đọng tinh anh. Động Phanh mãi mãi là nơi cát địa . Hoàng Phúc chẳng nói hết được ý nghĩa . Ông Quách cũng có chỗ chưa hiểu nổi . Nghìn vạn năm sau, vô cùng vô tận, đó là điều sở thành của người sau vậy . Tôi vẫn nói, trước hết con người làm nên phúc, sau mới nói trời báo đúc, sau nữa mới nói đất nay phát phúc.
Những thành tựu về sau là nhờ sự kế thừa của khoảng giữa bắt nguồn từ cái gốc ban đấu . Ban đấu là do cái gốc. Xem ra lòng tạo hoá đúng như thế!
Mùa xuân, năm Bảo Thái thứ 9 ( 1713 ) thượng thuần tháng hai,
đệ nhất giáp tiến sĩ , đệ nhị danh,
Hà nguyên Công viết.
Bài ký từ đường họ ngô
Tiên tổ họ Ngô ta là dòng dõi quý tộc nước Nam. Công nghiệp của đời trước, sự nghiệp ghi rõ trong sử ký. Đã trải qua các đời trên nghìn năm. Từ Đinh lên Lý, Trần trở về sau, con cháu ngày một đông đúc, khấm khá. Đến cuối đời Trần chọn đất ở Động Phang, chỉ sồng bằng nghề làm ruộng. Đấng Hoàng thiên để phúc, đất lành bồi đắp họ ta từ đấy phát tích. Các cụ tổ nhà, cha con ngài Dục Vương là bậc khai quốc công đầu, lừng lẫy tiếng tăm. Ngài Dụ Vương có ba anh em. Ngài sinh hạ mười một con trai đến được nhân tước phong và ruộng ngày một nhiều . Con cháu hoặc ở bản quán trông nom việc phụng thờ tiên tổ hoặc dời làng khác đều có phần đất hoặc ở châu quận khác kinh doanh sinh sống. Số người đi nơi khác ở ngày một đông được nhờ phúc ấm của trên mà con cháu trong họ đều hiển đạt. Võ là hùng tướng, văn trúng giáp khoa . Con trai nối nghiệp cha ông, con gái làm vẻ vang môn hộ. Đàng trong từ Ngệ An trở vào Nam, đàng ngoài từ Ninh Bình trở lên phía bắc, các chi phái họ nhà đều có cả. Người đông lại trải qua nhiều thế hệ khó mà ghi chép được, hoặc đổi theo họ mẹ cũng nhiếu, hoặc vì gia phả đời trướcc bị thất lạc không rõ bà con ở đâu . Chỉ biết họ Ngô ta từ Động Phang sinh ra . Có truyền lại mộ tổ ta thiên táng Ông bờ đó , bà xó chùa mà thôi . Có người được nhân ơn vua về thăm miếu tổ, có người ở xa quá không tiện đi lại, không thể kể ra hết . Riêng phái ta đời đời ở bản quán chịu ơn vua đã trên 200 năm, những người có quan chức, công to tát sử ký đã chép , còn có thể xét được. Đời Dụ Vương ta, hoàng hậu một người, phong vương một người , Quốc công một người , quận công sáu người, tước hầu ba người, phong phúc hầu một vị. Đời Thanh quốc công , phong quốc công bốn người, quận công tám người, tước hầu sáu người nữ năm vị. Đời Nam quận công, phong quốc công ba người, phong vương hai người, quận công mười người, phong tước hầu mười hai người, tước bá năm người, giám sinh mười người, phúc thần năm bốn vị. Các phái ở nơi khác có thể ghi được. Quận công tám người, quốc công ba người, tước bá mười người ., đỗ tiến sĩ sáu người, phong phúc thần ba vị. Triều vua ta (Lê) trung hưng về sau các chi phái ngày càng xa chưa thể ghi chép hết được. Chỉ chép những điều đã nghe, đã thấy, từ đời Bình giang hầu hết đến nay, phong vương một người, phong quận công hơn hai mươi người ( đều ở trong quyển này) tước hầu tước bá trên bồn mươi người, giám sinh trên ba mươi người . Tiến sĩ hai tám người . Các quan tước về sau đều chép riêng một cuốn.
Nói về phái ta, từ đời Thanh quốc Công trở lại đây đời đời được cấp ruộng tự điền, tính ra thêm một vạn ba nghìn mẫu . Ngài Dụ Vương có 11 người con, đến đời Thanh Quốc Công thụ lộc vẫn như thế. Còn các người khác có thể biết được. Con cháu Thanh Quốc Công cũng vẫn được hưởng lộc như thế. Các con cháu khác cũng có thể biết được. Từ đó về sau ông Tổ ta Phan Quý Công, tự là Phúc thọ là con nhà thế gia, thi gám sinh (phép tắc thi cử đời Lê: Con cái nhà quan thi đỗ tứ trường được xung vào quốc giám, gọi là giám sinh, dân thường gọi là hương cống. Thi đỗ tam trường, con quan gọi là nhi sinh, dân thường gọi là sinh đồ ) đã ra làm quan. Chợt gặp thời sự có biến, ba anh em bèn rủ nhau di cư về trấn Sơn-Nam hạ, một ở Tống Vũ, một ở Bái đương, một ở Minh Giám. ậ Bái Dưỡng (huyệnu Nam Trực- Nam Định ) vẫn để nguyên họ Ngô. Chi ta và chi Minh giám vì lý do lánh đất lên đổi là họ Phan. Sau khi đã chuyển cư, tổ nhà lại trở về Động Phang rước mẹ về phụng dưỡng. Được vài năm cụ thân sinh ra Phúc Thọ là Phúc Toàn mất, chôn ở thôn Nam. Sau đó bà mẹ Phúc Thọ là Cụ họ Lê vì nhớ quê hương, bà con thân thuộc trở về quê cũ thăm viếng, chẳng may bị bệnh mất mộ chôn tại Động Phang. Chi ta từ đó tôn cụ Phúc Toàn là sư tổ. Ông Phúc Thọ sinh ra Cương dũng hầu tự là Phúc Cương, lại sinh ra Khắc Khoan, Uy dũng đều đỗ giám sinh, lần lượt thăng trọng chức, lại sinh ra Chính Đức được phong làm Phú vinh hầu . Từ đó trở đi soạn riêng gia phả .
Đời Vĩnh thịnh thứ năm (1709) ngày sáu tháng hai.
Thi đỗ giám sinh, thăng thụ tước Thao vũ hầu,
Phan Hữu Lập , xã Tống Vũ - ghi chép rõ.
Việc Viêc họ họ Ngô
NGUYÊN ỦY VIỆC XÂY DỰNG TỪ ĐƯỜNG
TRONG QUÁ TRÌNH PHÂN CHIA CÁC NGÀNH
(Nguyên ủy quá trình xây dựng từ đường để ghi lại ý tưởng tốt của cụ Phan Thi, lấy đó để khuyến khích người đời sau noi theo)
Việc thiên hạ không việc gì ưu tiên bằng việc thiện. Làm việc thiện nên lớn nao. Lớn lao có thể trường sửu, trường sửu cho nên mới có hành động cho một ngày, Hành động cho một ngày ấy có thể truyền cho trăm nghìn đời sau.Đó là người hiểu sâu sắc điều thiện.
Sự việc có thể gom chứa tích lũy bao nhiêu năm mà sự hủy hoại chỉ trong chốc lát. Đó là sự không hiểu biết điều thiện, việc thiện. Người hiểu biết điều thiện, việc thiện thì tức khắc làm không đắn đo ngờ vực gì.
Ông Phan Thi là người như thế.Ông là người học thức sâu, lấy ý nghĩa Kinh Lễ để Tự phòng ngừa nên thường cảm khái nói: ”Việc phụng sự tiên tổ, tụ hợp dòng họ là ở từ đường. Các bậc quân tử đời trước khi dựng cửa nhà phải coi việc xây dựng từ đường là việc trước tiên (Trong thiên Lẽ đàn cung có nói: ”người quân tử khi chuẩn bị làm nhà thì coi tông miếu là việc trước tiên, nhà ở sẽ làm sau). Các bậc vương giả xây miếu thờ rất tôn nghiêm là nhằm tụ hợp anh linh tiên tổ làm cho lòng người bó bện lại (xem quả Tụy trong kinh Dịch).
Tổ tiên từ khi chọn đất về ở đất này chưa xây được từ đường, các tiết xuân thu đều hội tế ở nhà trưởng nam. Xét trong kinh Lễ có chỗ chưa hợp lý, bèn đưa ý kiến này trình bày với các vị già cả thân hào chức dịch trong nội tộc lo tính việc này, thu góp tiền làm vốn cho vay lấy lãi và định kỳ hạn xây từ đường. Về sau lãi tức của số tiền công quỹ được hơn 400 quan những người lập văn khế vay rồi không trả (có tú tài Phan Đăng Khoa, bát phẩm thư lại Phan Văn Dụ ,cựu phó tổng Phan Văn Huề ,lý trưởng Phan văn Hân, xã trưởng Phan Văn Minh. Về sau Phan Khoa, Phan Dụ tuyệt tự. Đáng làm răn vậy thay!) Thậm chí buộc phải đi tố giác nhờ quan tri phủ bắt phải hoàn lại một vốn nửa lãi .Nhóm người đó phụ lòng tình cảm bà con họ hàng sạch trơn. Vì chuyện này đi đến hiềm khích lẫn nhau đốt hết giấy tờ cam kết việc vay nợ. Do vậy mà việc xây từ đường không thành. Các chi đều cúng giỗ riêng. Điều đó chứng minh sự gom góp dành dụm hàng năm mà phút chốc ra tro. Đó phải chăng là sự không hiểu việc thiện, điều thiện mà đến nỗi thế chăng. (Xem đến đây thật đáng hận, đáng tiếc, lai cực kỳ đau lòng, kiến người ta phải đập bàn mà than dài!). Tháng 2 mùa xuân năm Bính Thìn (1856) triều Tự Đức, ông Phan Thi lại họp anh em chú bác nội chi (ngành ta) nói:’bọn họ như thế, chúng ta há lại bắt chước họ vậy thì việc cúng giỗ tổ tiên thế nào!” Toàn chi đồng lòng xin cứ theo quyết nhị. Sau đó chia từng hạng bậc mà góp tiền. (số tiền vốn cũ còn 25 quan 6 mạch. Cùng với nợ cũ là 4 quan, vị chi 29 quan 6 mạch luân chuyển cho vay lấy lãi, đợi một thời gian sẽ xây từ đường. Ông Phan Thi cùng với các em cung tiến vào đồ tế khí trong đó có một cỗ ngai (sự việc này xem phần sau ). Sự quan tâm của ông với ngày kỵ tiên tổ là như thế. Việc ông lo sửa sang từ đường, việc tế lễ tiên tổ đều là những việc tốt đẹp cần phải làm còn nhiều. Nào biết chí ông chưa toại nên ông về cõi tiên ngày 11 thán 4 năm Canh Thân (1860)(xem đến đây thực đáng thương, đáng tiếc).
Trong họ các ông Phan Trọng Thành, Phan Đăng Phú cùng với các ông Phan Uông, Phan Phúc kế thừa ý tứ tốt đẹp của Ông Thi ,hội họp tính toán số tiền lãi được 162 Quan. Lại bổ theo ba hạng bậc số tiền phải đóng góp tiếp:
Hạng 1 mỗi người 15 quan (7 người )
Hạng 2 mỗi người 10 quan (16 người )
Hạng 3 mỗi người 8 quan (7 người )
Tiếp đó, các ông Phan Xuân Hảo ,Phan Văn Bàn cùng Phan Hiệt và vợ Nguyễn Thị Thảo lại góp được 16 quan (việc này xem phần sau). Các khoản tiền đó tất cả được 489 quan ,mua được tư thổ và thổ cúng tiến cộng là 5 thước. Ngày tốt tháng 2 năm Tân Dậu (1861) tập hợp các nhóm thợ dựng từ đường. Bên trong là nội tẩm ngoài là bái đường ,mỗi tòa 3 gian, mái lợp cỏ gianh tường xây, tất cả theo pháp độ thời cổ. Không đầy tháng công việc hoàn thành. Chính tâm bên trong có trang trí hoa văn ngũ sắc rực rỡ. Tả hữu vu có thềm đá, đắp hai ngựa chầu phía trước, phía Đông ngựa hồng, phía Tây ngựa bạch hình thành một cảnh trưng nước. Từ đây có nơi thờ tự tổ tiên tươm tất vững bền. Cái chí xưa của ông Phan Thi đã đạt tới sự tròn vẹn. Cho nên nói việc làm của một ngày truyền đến trăm đời là như thế (xem đến đây đáng vui, đáng mừng đáng khen khiến người ta phải vỗ tay cười lớn).Qua việc này người nào hiểu biết việc đời có trải qua thất bại rồi sau mới thành công. Người ta phải biết suy nghĩ cho sâu sắc mới hiểu được nguyên nhân . Cho nên cứ lặng lẽ như là người ngu ,người vụng mà kiên tâm mài chí thì công việc lớn có thể thành, sự nhiệp có thể bền vững được. Nào phải một ngày một buổi mà thành được việc lớn .thấy việc nhỏ tưởng có thể làm nhanh được đâu! Nói như thế để lớp người sau của chi ta trăm đời sau nếu từ đường chỗ nào bị hư hoại khí, người giàu có xuất tiền của ,người nghèo bỏ công sức, biết nương tựa vào nhau cho công việc được thành công và không quên ý chí của người đi trước.Kinh thi có câu:’Kế tự tư bất vong”(thứ tự tiếp nối nhau không quên ý tưởng tốt) Lại nói “kế tự kỳ hoàng chi”(thứ tự tiếp nối nhau để to đẹp thêm).
Ngày tốt tháng 2 năm Tân Dậu (1862) triều vua Tự Đức. Chúng tôi là Phan Trọng Thành, Phan Văn Uông, Phan Đăng Phú ghi lại sự việc này lưu cho lớp người sau làm tấm gướng soi chung cho cõi lòng mình./.
BÀI KÝ TRÙNG TU TỪ ĐƯỜNG
Việc trong thiên hạ có điều gì làm được cho tổ tiên thì sự tốt đẹp đó được lưu truyền. Người lớp sau làm được điều gì cho tổ tiên thì càng được tuyên dương. Người đời sau hẳn vì người lớp trước, mà người lớp trước hẳn là trông cậy nhờ vào lớp người sau. Cả hai phía thế hệ trước, thế hệ sau cùng dựa vào nhau mà thành mọi việc. Đó là lý do vô cùng quan thiết vậy.
Các vị tiền nhân: Phan Trọng Thành, Phan Đăng Thi, Phan Đăng Phú, Phan Đăng Uông, Phang Đăng Phúc, Phang Đăng Diễn vào năm TÂN DẬU (1861) triều Tự Đức đã xây dựng từ đường thờ tiên tổ và đã thành công. Có thể nhìn nhau mà nói: ”thế là tốt đẹp rồi, lớp sau ta chớ bỏ nền móng này “. Thay vì năm tháng đã lâu, gió mưa xối xả làm lung lay tường vách, phía ngoài đã bị hư hại lại kề sát ngõ nhỏ. Cái thế đó ăt phảo di dời. Hai ông Phan Phúc, Phan Diễn bàn bặc lo toan cùng bà con trong họ, trích số lãi cũ được trên 200 quan, mua gỗ tứ thiết hẹn ngày xây dựng, ý định vào năm Đinh Hợi (1887) (năm Thành Thái nguyên niên), các ông Phan Diễn, Phan Ứng mưu tính chuyển từ đường ở địa điểm mới. Chọn đất mua được một sào thổ cũ của ông Phan Phổ. Đó là nền móng tốt của nghìn vặn năm hương hỏa và bèn di dời.
Trước hết nói về Từ Đường cũ thì xây dựng chính tẩm và bái đường chung một tào 5 gian. Lần này chọn gỗ, gọi thợ khởi công. Thang 6 năm Qúy Tỵ (1893) làm chính tẩm 3 gian 2 chái mái ngói tường gạch hai bên cánh gà có tiểu viện. Qua 2 tháng thì xong ‘.
Vói trên thỏa lòng các đấng tiên linh, lớp người giữa thì tiếp nối được công lao tạo tác của người trước, với lớp người sau kế thừa nối dõi ở đất này. Một việc có nhiều điều thiện như thế.
Trước kia tôi thường đọc bài ký xây từ đường có nói : Chúng ta là lớp người sau, chi ta 100 đời sau từ đường nếu như khuyết liệt thì người giàu bỏ tiền của, người nghèo góp công sức, cùng dựa vào nhau đi tới thành tựu để không bao giờ quyên ý chí lớp người trước. Kinh thi nói : “Thứ tự tiếp nối nhau không quên ý tưởng tốt “. Lại nói : “Thứ tự tiếp nối nhau để to đẹp thêm “. Hãy rửa tay sạch, kính cẩn mà đọc lời nói ấy, ghi tạc vào trái tim để tăng thêm súc cảm . Thế là anh em chú bác đều vui vì đã kế thừa ý tưởng lớp người trước. Từ đường cùng cảnh quan lại trở nên mới mẻ. Nhìn đế bài ký thuở trước, tôi như thấy các bậc tiền nhân, cũng nở nụ cười chốn dạ đài (chỉ suối vàng, mộ). Con cháu ta sau này xem đến bài ký hôm nay hẳn thấy lời nói đó có ý vị sâu xa mà nối chí.
Thuật lại sự việc với anh em trong họ cũng là xem lại bài ký thủa xưa. Bài ký thủa xưa chẳng đã nói, việc làm của một ngày truyền lại cho trăm nghìn đời sau, đó là lẽ đương nhiên. Chúng ta lớp người sau hãy gắng lên khuyến khích lẫn nhau.
Ngày 16 tháng 8 năm Qúy Tỵ (1893) triều Thành Thái.
Cử nhân NGÔ PHAN CẢNH TUNG viết lời tự (kể lại)
(Cử nhân NGÔ PHAN CẢNH TUNG, tiên phụ trước đặt tên là Văn Kiến. Anh cả lại đổi tên là Văn Chiêm. Trong sổ đinh tên là Đức Tuấn. Lại có tên là Đắc Thuyên. Sau khi đậu hương tiến (tức cử nhân) lại đổi gọi theo trên (Phan Cảnh Tung).
Thân Thân Thuyết
THÂN THÂN THUYẾT
(Nói về sự thân thiết với bà con trong họ)
Từ thủa xưa (họ ta) đã có những vị thượng đại phúc thần nhờ trời đất mà giáng sinh nơi thần thế, sinh ra ông cha ta đến bản thân ta làm cho họ ta thịnh vượng, vun trồng đạo đức cho ta, làm cho họ ta nở ngành xanh ngọn.
Ta sống ở đất nước tốt lành, bồi đắp mẫu “nhân” cho ta. Khí âm theo bóng ta cùng phụ với khí dương mà có hình thể ta.Khí âm dương đó giáo huấn ta mà ta mà ta không nhìn thấy, bảo ban ta mà ta không nghe thấy âm thanh. Cả cuộc đời giỏi giang hay kém cỏi những việc ấy trước sau thường có sự biến đổi. Trăm nghìn năm lại đây (tinh thần) ấy mờ mờ ảo ảo về cháu con mà phù trì, giúp đỡ. Công đức ấy thật cao dầy, tinh linh ấy như một dòng nước chu lưu trong trời đất khiến trong ta có cái thế rất thân thiết, rất tôn kính, rất quan thiết với nhau.Kinh thư nói : “tuân theo tiên tổ”. Kinh lễ nói :”tôn kính tiên tổ”. Kinh thi nói: ”nối dõi tổ tiên”. Kinh dịch nói:” tụ hợp tinh hoa tiên tổ”. Người xưa coi việc đó là cái nghĩa rất trọng đại.Cho nên việc xây dựng tông miếu (từ đường), sửa sang lễ nhạc, bày biện đồ thờ, cúng giỗ đầy đặn cốt là báo đáp, cái gốc tiên tổ đã sinh ra ta.Việc thờ phụng tiên tổ để bó bện dòng họ (Cửu tộc)*. Ngoài ra có việc tế lễ (Ngũ tự)*, cùng việc tế lễ những người có công đức với dân, có sính lễ, có tân lễ, có hương âm lễ. Mấy thứ lễ này là sự thù tạc mà thôi. Từ khi thời đại ngày một đi xuống thì việc cúng lễ chẳng cần cái thiện ở nơi ta (ý nói tổ tiên ta - nd), chuyên tâm cầu phúc ở thần minh, chăm việc tu sửa đình chùa, đối với từ đường (thờ tổ tiên ) thì qua loa, đơn giản. Thi nhau nuôi lợn to để cúng lễ nơi miếu thờ ngoài nội mà các vị tiên linh chỉ có nậm rượu đem dâng. Dê non béo đãi khắp làng xóm, với người cùng một nhà thì có lỗi lầm cho ăn uống khô khan, kham khổ. Thậm chí việc cúng giỗ đùn đẩy trách nhiệm cho gia đình đôn đốc. Với phần mộ thì người trưởng ủy thác cho người nhà rằng, đó là phận của người lớn tuổi, người ít tuổi chỉ biết theo thôi.
Sự phí tổn đối với lệ làng hoặc có khi tốn kém tới trăm, tới nghìn thì người nhà vui vẻ tuân theo. Phí tổn đối với tộc lệ (lệ của họ tộc) ước khoảng 5, 6, 7 quan tiền thì người nhà mặt ủ mày nhau, tiếc tiền, tiếc của. Thế là làm sao? có phải ý trí cho rằng tiên tổ đổ tội cho đời sau chăng? Ngoài những sự lệ trong hương thôn ra, chỗ sáng sủa có người cho là sai sót, chỗ tối tăm có quỷ thần trách móc. Cái tình trạng ấy chẳng đã thu hoạch được rồi đó sao? Nuôi lợn béo có thì lĩnh thưởng. Nợ miệng có thể thay cho việc đền bù hay không? đều cầu đến âm phúc của thần linh giáng xuống, liệu cái danh dự ấy có kéo dòng dài được không? hay, hoặc là bị nhiều người trong dòng tộc chỉ trích mà dân làng cũng cho là chuyện dở? Cho nên sự báo đền cho cái dục vọng ấy liệu có đáng khen không? Song (những người đó) chưa nghĩ được, người làm việc thiện sẽ được cát thần ban phúc, người làm điều ác sẽ bị hung thần gieo họa. Qủa quyết chưa từng nghe nhà cao, cửa rộng, gà lợn béo tốt, mà có thể dâng biếu điều tốt đẹp. Còn như việc khoan dung với kẻ kia hoặc là cho nó vay nợ để nó trộm cắp hại người, kiện cáo điêu toa làm những việc dâm ô càn dỡ, bạo ngược mà cho đó là cái oan khiếp trước của nó như thế. Thần minh nếu có nghe biết thì sẽ nhanh chóng gieo tai họa cho bản thân kẻ ấy. Chao ôi, liệu có lợi ích gì !
Phải nghĩ cái nguyên khí của ta là nhờ tổ tiên, thân thể ta là của mẹ cha, chân tay ta là người anh em, thịt da ta là bà con họ tộc.Sự gìn giữ nó trong một thể thống nhất thì sự chia sẻ niềm vui và nỗi lo âu của nhau mới có ý nghĩa. Phải khuyến khích nhau gắng sức làm điều thiện để bảo vệ dòng giống mãi mãi (tám chữ này là cốt tủy của toàn bài, nên suy nghĩ thuần thục mà gắng sức thi hành). Khi có người nào mắc lỗi, người trong họ nếu như có sự trách móc quá đáng, kịp khi dẫn tới hoặc nạn nguy hiểm, hoặc có thể lo liệu thay, hoặc đương đầu với sự khó nhọc. Khi sự việc đã êm xuôi lại bồi dưỡng cho người đó cơm cháo tươm tất. Ngạn ngữ nói: “thuốc đắng sẽ sinh ra da thịt. Đại để là như thế.
Cảnh sống yên vui, người làng như người thân.Kịp khi động đến cái lợi, cái hại cá nhân sẽ dẫn đến chẳng đầu độc nhau thì dồn nhau tới hình luật, đã chôn nhau xuống hố rồi còn lấy đá đè lên.Cho nên ngạn ngữ nói : “mật ngọt chết ruồi”, sự đời là như vậy.Thử xem trong hàng phe, hàng giáp trong làng, nắm tay nhau cười cười nói nói vui vẻ, kịp sáng sớm mà chết chưa vào quan tài thì chiều đã xóa tên người đó!
Hãy nhìn vào tông tộc, khi sống thì ăn uống với nhau ở từ đường, khi qua đời thì lễ người chết tiếp theo lễ tổ tiên ở miếu vũ (miếu vũ tức là từ đường), cả họ nhớ tiếc. Những dịp lễ tểt trong năm đều nhớ tới người đó, quả là chẳng ai nghĩ đến chuyện lễ dày hay lễ mỏng. Qua đó khiến người ta suy nghĩ về sự quay về với cội nguồn. Sự suy nghĩ việc tôn kính tiên tổ, thân thiết với người trong họ, đó là nghĩa vụ số một của đời người. Nói về việc tôn kính tiên tổ phải như thế nào? Đó là phải bồi đắp công đức mà tiên tổ dựng nền tảng, tu sửa từ đường, củng cố phần mộ cho vững chắc, sạch đẹp, không ngại mệt nhọc, phí tổn. Gọi là thân thiết với dòng tộc là thế nào? Đó là sự ăn ở đầy đặn tử tế, có lễ tiết trên dưới, nhường nhịn lẫn nhau, giữ sự công bằng, giúp đỡ người nghèo khó, răn dạy lỗi lầm, anh em hòa mục, chớ để mất luân thường đạo lý. Tính từ khi tổ ta thiên cư về đất này đã hai trăm năm.Không nhớ được các đời xa chỉ ghi nhớ các đời gần .dõi từ vị cao tằng trở lại đây mấy đời, các vị chức dịch thân hào kế tiếp đến nay đều theo lẽ thường giữ được nghiệp nhà, kính trời làm việc thiện, không trục lợi với người làng, không tranh giành tiếng tăm với ngõ xóm. Điều quan trọng nhất là chọn nơi đất tốt để mộ phần, sửa sang từ đường, răn dạy con cháu lấy lòng trung tín hiếu để ăn ở với nhau.
Ta thuộc lớp sinh sau, mỗi khi xem lại ta, liền nghĩ ngay đến tiên tổ xem mình có lỗi lầm gì không? Kinh thi có nói: “Tự cầu nơi ta thì được nhiều phúc “Lời nói hay như thế, ta cần chú ý rèn luyện, lấy điều thịên cư sử với nhau. Đó là lòng hiếu với tổ tiên, là sự thân ái với họ hàng, hòa mục với làng xóm. Người ta lấy sự hòa (hòa nhã, hòa mục, hòa đồng hòa thiện…) mà thần minh giáng phúc.
Cử nhân PHAN NGÔ CẢNH TUNG
Thursday, December 08, 2005
Wednesday, December 07, 2005
Tam Bách Dư Niên Hậu
http://www.talawas.de/
talawas , ở Đức , có loạt bài để kỷ niệm Nguyễn Du ...
Đáng nên phổ biến. Tôi nghĩ vậy , nên đem vào đây.
http://www.talawas.de/
Tuvota.
Saturday, December 03, 2005
Nhà Thờ Phát Diệm
http://www.photo.com.vn/Forums/viewtopic/t=303.html
http://www.photo.com.vn/Forums/viewtopic/t=303.html
TVT
Các Thành Viên Tham Gia: longpt (Canon EOS III) , Nason (Canon 20D) , Sicily198x (Canon 10D), loayhoay(Nikon D70) , having_bath (Canon 1Ds Mark II) , hanoiroxy1996( Canon G6)
Thời Gian Xuất Phát: 3giờ30 sáng chủ nhật 17 tháng 7 năm 2005 ( về đến Hà Nội 22giờ30 cùng ngày )
Đường Đi: Theo quốc lộ 1 từ Hà Nội vào đến Thị Xã Ninh Bình 95KM rẽ phía Đông Nam đi theo đường số 10 được 28km là tới thị trấn Phát Diệm. Ở bên trái thấy cây cầu ngói cổ (cầu có mái ) đi thêm chừng 100 m rẽ sang tay phải (hướng bắc) theo một con đường trải nhựa dài khoảng 250 mét dân ở đây quen gọi là đường giữa thì đến khu Nhà Thờ Phát Diệm.
Mời các bạn đến thăm quan nhà thờ Phát Diệm qua góc nhìn của các nhiếp ảnh gia nghiệp dư
Phần 1: Cái nhìn tổng quan về nhà thờ Phát Diệm
Phần 2 : Một số chi tiết kiến trúc đẹp
Phần 3: Con người Phát Diệm
Phần 4: Hậu Trường và vui nhộn
Phần 1:
Tổng Quan về nhà thờ Phát Diệm:
Quần thể nhà thờ Phát Diệm gồm 1 nhà thờ lớn và 5 nhà thờ nhỏ (trong đó có một nhà thờ được xây dựng bằng đá tự nhiên, được gọi là nhà thờ đá), 1 phương đình (nhà chuông, quả chuông nặng gần 2 tấn, tiếng chuông ngân 3 tỉnh nghe tiếng: Nam Định, Ninh Bình và Thanh Hoá), ao hồ và 3 hang đá nhân tạo. Công trình kiến trúc được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa này được khởi công xây dựng 1875 và hoàn thành sau 24 năm (1899) dưới dự chỉ đạo của Linh mục Phêrô Trần Lục (Cha Sáu) và công sức giáo dân Kim Sơn. Điểm đặc biệt của nhà thờ Phát Diệm là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc nhà thờ châu Âu và kiến trúc đình chùa Việt Nam.
Vị Trí :
Thuộc địa phận thị trấn Phát Diệm huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội 130 km về phía Nam
Nguồn Gốc :
Phát Diệm có nghĩa là phát sinh ra cái đẹp, tên Phát Diệm do Nguyễn Công Trứ đặt. Kim Sơn vốn là vùng đất mới khai khẩn, trước đây rất lầy lội, để xử lý độ lún của khu đất trước khi xây dựng người ta đã chuyển cả một quả núi nhỏ cách 40 km về Phát Diệm, khách về thăm nhà thờ còn thấy núi Sọ, đấy chính là một phần của trái núi đã được dân rời về Phát Diệm
Nhà thờ lớn Phát Diệm khởi sự dựng lên năm 1891 cho tới khi thượng lương (dựng nóc), ngày 23 tháng 6 chỉ trong vòng ba tháng. Cha Trần Lục dâng hiến thánh đường kính Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi. Thánh đường hoàn tất vào bốn năm sau là năm 1895. Trước ngày khởi sự dựng lên, việc chuẩn bị sắm vật liệu gỗ đá và tụ chân móng đã kéo dài mười bốn năm về trước, nghĩa là từ năm 1877. Công trình toàn bộ còn tiếp tục trong nhiều năm sau, cho đến năm cha Trần Lục qua đời (1899).
Nét Đặc Trưng
Ông Nguyễn Văn Giao, hướng dẫn viên phục vụ Nhà thờ cho biết: "Nói công trình này giống đình chùa là rất đúng. Cha Trần Lục- người kiến trúc sư của công trình có mong muốn rằng, qua công trình này nói lên tính chất hòa hợp và sự hội nhập giữa đạo công giáo với nền văn hóa kiến trúc của dân tộc cũng như sự hòa hợp giữa công giáo với các tôn giáo khác ở Việt Nam; nói lên tính đoàn kết".
Mặt bằng tổng thể được bố trí tuần tự, từ ngoài vào là ao hồ rồi một sân rộng, kế đến là Phương Ðình có chung sân trong với Nhà Thờ Lớn. Phía cuối là hang Bê-lem và Lộ-đức. Nhà Thờ Lớn còn là trọng tâm và là trục đối xứng của 4 Nhà Nguyện nhỏ: 2 Nhà Nguyện kính Thánh Giu-se, Thánh Phê-rô ở bên trái, 2 Nhà Nguyện kính Thánh Rô-cô và Trái Tim Chúa Giê-su ở bên phải. Giáp phía Tây Bắc là Nhà Thờ Ðá kính Trái Tim Ðức Mẹ, có hang Núi Sọ ở phía trước. Toàn bộ diện tích còn lại ở phía sau được dành cho các cơ sở của Nhà Chung.
Như vậy, đa số các công trình trong quần thể đều được bố trí trải dài theo một trục chính và đối xứng qua trục, tuân theo những quy luật bố trí rất phổ biến trong mặt bằng các kiến trúc tôn giáo truyền thống. Quy luật tổ hợp này đảm bảo cho mặt bằng quần thể tuân thủ được thứ tự bố cục các công trình theo chiều sâu, đồng thời vẫn có thể trải dài mặt đứng theo diện rộng. Ðây cũng còn là cố gắng nhằm giữ được phong cách xử lý mặt đứng phát triển trên phân vị ngang, một đặc trưng khác của kiến trúc truyền thống
Kiến trúc sư Đoàn Khắc Tình, Cán bộ Hội Kiến trúc sư Việt Nam đánh giá: "Nhà thờ Phát Diệm là một quần thể kiến trúc khá hoàn hảo và kế thừa kiến trúc truyền thống. Công trình này trải qua thời gian xây dựng là ¼ thế kỷ. Phát Diệm là vùng đất bãi bồi ven biển nên để xây dựng công trình với khối lượng lớn vật liệu sử dụng chất liệu đá rất nặng việc xử lý tải trọng và nền móng công trình được các nhà xây dựng nên nhà thờ Phát Diệm quan tâm cho nên sau hơn 100 năm tồn tại về cơ bản, nền móng vẫn còn tốt. Với một trình độ hoàn toàn thủ công thời bấy giờ, quả là một kỳ công…".

2. Ao Hồ
3. Tượng Chúa Jesu
4. Cổng Nhỏ Đông
5. Cổng Đá Đông
6. Phương Đình
7. Sân giữa & Lăng Cụ Sáu
8. Nhà Thờ Lớn
9. Nhà Thờ Thánh Giuse
10. Nhà thờ thánh Phê rô
11. Nhà Thờ Đá
12. Núi Sọ
13. Hang đá Belem
14. Vòi Phun Nước
15. Toà Giám Mục
16. Hang Đa Lộ Đức
17. Nhà thờ trái tim chúa Jê su
18. Nhà Thờ Thánh Rôcô
19. Nhà Hát nam Thanh
Theo một số nhà nghiên cứu, tổ hợp mặt bằng này còn hợp cách với các quy luật tổ hợp theo Ðịa lý - Phong thủy, với cách "phân thế" theo sơ đồ sau:

Về hình dạng mặt bằng công trình, nếu hình dung một vạch ngang thứ nhất nối liền qua hai cổng Nhà Thờ (đi ngang qua Phương Ðình và sân trong), vạch ngang thứ hai nối Nhà Nguyện kính Thánh Rô-cô đến Nhà Nguyện kính Thánh Giu-se, và vạch ngang cuối cùng nối từ Nhà Thờ kính Trái Tim Chúa Giê-su đến Nhà Nguyện kính Thánh Phê-rô, chúng ta có được 3 vạch ngang, hợp với vạch sổ dọc là Nhà Thờ Lớn kính Ðức Mẹ Mân-côi, thành một chữ VƯƠNG theo Hán tự.

Phải chăng đây là hàm ý của tác giả công trình muốn thể hiện lòng xác tín vào Ðức Ki-tô là Con Thiên Chúa, là Vua của muôn dân, của vũ trụ?

Du khách ngày nay bước vào khu thánh đường trước hết phải vòng quanh một cái ao hồ rộng một mẫu, ở giữa hồ trên một cái gò nhân tạo có tượng Chúa Giê-su Vua cao 3 mét (1925).

Du khách bước vào sân rộng lớn qua cổng đá phía tây. Sân này cũng rộng tới một mẫu, sân lát đá thước làm đường kiệu chung quanh nhà thờ, những chỗ khác lát gạch Bát Tràng.Số 5 trên sơ đồ
Trên sân là phương đình (nhà vuông), hình dáng như cái đình làng rộng lớn trống trải, ngang 24 mét, sâu 17 mét, cao 25 mét, ba tầng. Tầng giữa có một trống cái, tầng trên cùng có quả chuông nam cao 1,9 mét (đúc năm1890), đường kính 1,1 mét, nặng gần 2 tấn, âm thanh vọng đi xa tới 10 cây số. Phương đình hoàn thành năm 1899, là công trình sau hết của cha Trần Lục, và theo ý kiến của nhiều người, là kiệt tác của toàn bộ.
Phương Ðình là phòng họp chung, có những bàn đá để ngồi. Bánh chưng vuông tượng trưng cho đất. Mọi sinh hoạt trần thế được qui tụ nơi đây, gồm cả “hoa mầu ruộng đất và lao công của con người”, buồn, vui, đắng, ngọt. Mọi diễn trình của cuộc sống đều có góc có cạnh. Cả con người cũng bị giới hạn bởi không gian và thời gian trong cái bị thịt như cái hộp vuông góc. Nhưng trong thâm tâm con người luôn ước vọng vươn tới vô biên. Cõi vô biên toàn mãn của trời được tượng trưng bằng bánh dầy tròn.
Những bế tắc nhốt giam trong cái hộp vuông thì ai cũng cảm thấy. Nhưng đây là con đường hóa giải: Bước vào đình vuông là dám chấp nhận thực trạng cuộc sống với tất cả mọi khía cạnh, và di chuyển vào nhà thờ để cho sức thiêng cảm hóa thành hòa hợp vuông tròn. Ðây là cả một đạo lý sống được diễn ra bằng đường nét hiển hiện, như một qui trình đạt vuông tròn, mẹ tròn con vuông. Chứ những con đường duy vật, chỉ cậy dựa vào sức riêng của cái hộp vuông hữu hạn, thì chỉ mang lại những hậu quả chém giết hãi hùng như đã từng thấy trong lịch sử nhân loại
Số 6 trên sơ đồ

Mặt tiền nhà thờ lớn dưới có 05 lối vào bằng đá, phía trên có 03 tháp vuông bằng gạch có mái cong. Trên đỉnh tháp giữa, có tượng hai thiên Thần cầm thánh giá, hai bên là hai thiên thần khác nổi loạn, dưới là bốn chữ hán"Thẩm Phán Tiền Triệu ("Điềm báo trước ngày Phán xét)
Bước qua Phương Ðình vào Nhà Thờ Lớn, bạn đang đi vào một diễn trình biến đổi. Từ một nếp sống tầm thường đến một cuộc sống hoàng vương như hoàng tử Tiết Liệu đã làm với của lễ bánh chưng vuông hòa hợp với bánh dầy tròn. Từ những góc cạnh nhọn hoắt của đất thấp đến vòng tròn viên mãn trời cao.
Cụ Sáu Trần Lục quả là đã thấy được sức mạnh biến đổi của tiềm thức khi xây Nhà Thờ Lớn với một bầu khí như hang động. Từ ngoài bước vào trong, phải một lúc mới nhìn rõ, vì bên trong tối hơn bên ngoài nhiều, tạo nên một bầu khí trầm mặc thuận tiện dìu con người vào một chiều kích siêu vượt. Năm cửa chính của Nhà Thờ Lớn điêu khắc những bức tiêu biểu kỳ bí của sự hợp thông hai lối kiến trúc đông - tây, hình ảnh đạo Chúa nằm bên cạnh hình ảnh bông sen của Phật, hai thế giới xem ra xung khắc. Yvonne Schultz trong báo Illustration ngày 9.11.1929 đã nhận thấy như sau:
“Những bông sen, cây cau, cây chuối che bóng những cảnh Thánh Kinh, mấy chú bò mọc sừng trâu, những nhân vật giống dáng người sơ khai, nhưng lại mang vẻ mặt người Phật giáo... Tất cả những điêu khắc kỳ lạ đó làm tôi ngỡ ngàng và cảm phục vô cùng.”
Người Da Ðỏ thường làm lễ Quan cho một đứa con bước vào tuổi trưởng thành bằng cách đưa vào trong một cái hang trống. Vào trong hang trống là vào cõi huyền nhiệm, để con người vượt ra khỏi cái hộp không gian và thời gian chật hẹp thường ngày, mà vươn tới một chiều kích mới rộng mở. Ðó là chiều kích thư tư, chỉ có thể thấy được bằng con mắt thứ ba, con mắt của tâm.
Như vậy, nhà thờ tự căn bản, là cái “hang trống”, để con người có thể vươn tới huyền nhiệm. Và các nghi lễ phụng vụ phải là những tác động dẫn con người vào chiều kích này. Ðến nhà thờ hay tham dự phụng vụ, chẳng phải để nghe hiểu cái này điều kia, mà là một cuộc biến đổi sâu xa bằng tác động, bằng biểu tượng.
Ðể tạo bầu khí “hang trống” huyền linh, nhà thờ thường đừng quá nhiều ánh sáng mà phải trầm mặc u linh. Âm thanh phải siêu thoát, thường được phả bằng tiếng phong cầm như gió thoảng qua ống tre ống trúc, chứ không phải là những điệu nhạc ù tai nhức óc làm bấn loạn tâm thần. Mùi hương dịu thơm làm thư giãn khứu giác và làm cho hơi thở trầm lại êm ả.
Cái bầu khí tròn “hang trống” như trên phải được đề cao để thay thế cho những ồn ào náo động của nhiều nhà thờ, chỉ khiến người tham dự thêm mệt mỏi hơn là tìm thấy an bình thảnh thơi để vươn tới một thực tại siêu vượt. Và nếu phụng vụ Công Giáo không dẫn con người đến được chiều kích thứ tư này thì xì ke ma túy sẽ được thay thế vào đó với hậu quả tai hại biết chừng nào. Và hiện tượng xảy ra là một số giới trẻ Công Giáo chạy theo những nhóm đạo thần bí, một số khác kể cả người có tuổi cũng hồ hởi với những niềm tin rất ư hiếu kỳ như nhân điện của hỏa xà Kundalini trong những luân xa nhặt được ở mãi bên xứ Ấn.
Giáo sư Kim Ðịnh đã nhận xét thật sâu xa về nghệ thuật nói chung, có liên hệ đến kiến trúc và những xếp đặt tạo bầu khí phụng vụ:
“Lý tưởng nghệ thuật là cố gắng biểu lộ vô biên xuyên qua những cái hữu hạn. Vì thế khi tiếp nhận với nghệ thuật chân chính ta cảm thấy cái chi như thấm vào tâm hồn, như được vén màn lên để chạm tới cái chi man mác. Ðiều này dẫn tới một nhận xét khác là lý tưởng của nghệ thuật cũng chính là lý tưởng con người, vì con người cũng luôn luôn hướng về siêu việt. Có thể nói, lý tưởng của nghệ thuật sao, lý tưởng con người cũng vậy: tức cũng như nghệ thuật, con người luôn cố gắng kết hợp với cái chi vô biên thường được gọi là thần là thánh.” (Sứ Ðiệp Trống Ðồng, trang 90).

Mặt tiền nhà thờ lớn nhìn từ một góc khác

Thánh đường lớn gồm chín gian với sáu hàng cột gỗ lim, tổng cộng bốn mươi tám cây cột đỡ lấy bốn mái, mười sáu cây cột ở giữa chu vi 2,35 mét, cao 11 mét, nặng 7 tấn. Ở gian trước cung thánh, trên thượng lương (xà dọc cao nhất) có ghi ngày dựng nóc 17 tháng 5 năm thứ ba Thành Thái (23.6.1891). Trên cung thánh (cao hơn hai bậc, hai gian, không cột), Du khách nhìn ngắm cái bàn thờ là một khối đá dài 3 mét, rộng 0,9 mét, cao 0,97 mét, ba mặt có chạm trổ hoa lá. (Tháng 10 năm 1990, nhân dịp khai mạc kỷ niệm một trăm năm có đặt thêm một bàn thờ trông xuống bằng một phiến đá dài 3 mét, rộng 0,9 mét, dày 0,2 mét). Tiếp lên cao tới nóc là toàn bộ gỗ chạm khắc tinh xảo sơn son thiếp vàng (vàng y) chói lọi. Chính giữa là toà Đức Mẹ bế Chúa Con phía trên có bảy cửa kính vẽ hình sáu thánh tử đạo đứng hai bên Chúa Giê-su Vua. Trên cùng là khung ảnh Đức Mẹ ban tràng hạt Mân Côi cho thánh Đa-minh, chung quanh có mười hai thiên thần.

Hai bên thánh đường toàn là cửa gỗ, mỗi bên hai mươi tám cánh. Hiên rộng 1,5 mét nền đá, nhìn chiều dài hun hút 74 mét, rộng 21 mét. Lùi xa một chút, khách thấy mái thánh đường có hai tầng, giữa mái trên và mái dưới là một hàng cửa sổ để lấy ánh sáng và không khí.






